TIẾNG NỔ TRONG ĐÊM GIAO THỪA
Đoạn trích là ký ức đau thương về đêm giao thừa năm 1970, khi niềm vui thoát vây chưa trọn vẹn thì nỗi đau mất mát ập đến. Trong bữa cơm xuân đạm bạc với gạo hẩm và muối quẹt, tác giả bàng hoàng nhận tin Lũy – cậu bé liên lạc 14 tuổi dũng cảm – đã hy sinh do trúng mìn phục kích của Mỹ khi đang trinh sát bảo vệ đồng đội. Sự ra đi của em thê thảm đến mức thi thể hòa tan vào đất bụi, không để lại chút dấu vết, để lại nỗi xót xa khôn nguôi cho cả đơn vị giữa ngưỡng cửa năm mới.
Tôi không còn nhớ đêm giao thừa giữa năm Kỷ Dậu (1969) với năm Canh Tuất (1970) là đêm 29 hay 30, nhưng đêm đó là đêm giao thừa đáng nhớ.
Sau khi thoát vây, tại căn cứ dự bị lúc bóng tối bao trùm cả khu rừng, chúng tôi lần lượt lên khỏi địa đạo để phơi mình trong cơn gió se lạnh của thời tiết đang bước sang xuân. Đồng chí tham mưu trưởng tự tay đong gạo. Đón năm mới khẩu phần làm bữa ăn tối nay được một lon sét sữa bò gạo hẩm làm bữa cơm muối quẹt mừng xuân. Thường ngày mỗi người một lon cho cả hai bữa. Một lon sét gạo sẽ thành hai chén sét cơm. Thế cũng “quá sang” trong tình cảnh này của chúng tôi. Trên căn cứ Cá Rô anh em đã làm một chuyến tiếp phẩm từ Củ Chi về đã bị quân Mỹ trộn lẫn đất bụi. Chúng tôi chưa biết tin này. Đến giờ phút sắp hết năm, chúng tôi không hy vọng gì chuyến tiếp tế về đến đây nữa. Thôi thì có hai chén cơm mừng cơn thoát hiểm đã là may rồi.
Cơm xới ra chưa ăn được lưng bát, hai tiếng nổ rền tiếp nhau chếch về hướng Tây tây nam nơi mép rừng bên phải chúng tôi đang trụ. Đây là tiếng mìn định hướng Mỹ. Sống ở đây sát lưng địch, chúng tôi an tâm không sợ phi pháo chúng bất ngờ oanh kích. Tiếng nổ nơi có con đường mòn từ cứ đang bị Mỹ vây về hướng đi lên căn cứ Cá Rô. Tôi lo, không còn chút “khoái khẩu” nào của hai chén cơm gạo hầm. Biết đâu có anh em trên ấy về sa vào bẫy mìn quân Mỹ. Thủ đoạn phục kích đánh mìn hoặc gài mìn chết là lối đánh phổ biến gần đây của biệt kích Mỹ. Tôi đang thì thầm trao đổi với anh Năm Lê, nghe có tiếng bước chân, tiếng người khe khẽ rì rầm. Một đồng chí đến báo có Tám Hiền và Năm Thanh từ căn cứ Cá Rô thoát vây về đây. Tám Hiền là cán bộ tài vụ của phòng tham mưu. Năm Thanh phụ trách quản trị hành chánh. Hai anh cùng điều hành số anh em trên căn cứ Cá Rô lo chạy gạo và mua sắm chút ít đồ Tết. Nghe hai anh kể chúng tôi mới tường tận chuyện Hai Đ. bị bắt dẫn Mỹ về đánh căn cứ. Anh chị em thoát được không ai thương vong. Mọi người trên ấy chưa ai biết cứ chúng tôi đang bị Mỹ tấn công. Chỉ phỏng đoán chừng chừng nên hai anh quyết định về lại dưới này xem tình hình ra sao.
Cùng đi với hai anh có Lũy, cậu bé liên lạc của văn phòng. Lũy mới 14 tuổi. Đi theo kháng chiến lúc còn bé tí tẹo vừa tròn ngày sinh năm thứ mười một. Em tuy nhỏ nhưng rất tháo vát nhanh nhẹn, ngoan hiền lại rất bạo gan. Trong cơ quan ai cũng mến yêu em.
Trên đường về em luôn đòi đi trước trinh sát thăm dò phát hiện dấu vết Mỹ. Hai anh không cho bắt phải đi sau cùng. Đến cách rìa ủi của căn cứ khoảng 300 mét em vọt lên nói khẽ: “Em cảm thấy có điều gì đó không ổn, hai anh hãy núp sau gờ đất này để em mò lên trước xem sao”. Hai anh chưa kịp giữ em lại, Lũy đã biến vào đêm tối. Mấy phút sau tiếng mìn định hướng nổ tạt về phía hai anh. Nguy rồi, Lũy dẫm phải mìn Mỹ - hai anh thảng thốt kêu thầm gục đầu xuống gờ đất ân hận tự trách mình. Đau buốt cả lòng vì xấu hổ. Lũy dành lấy cái chết thay hai anh. Biết địch phục vây căn cứ, hai anh gạt nước mắt tạt qua cụm rừng có căn cứ dự bị hy vọng gặp được chúng tôi.
Nghe tin Lũy hy sinh ai nấy như rụng rời tay chân chết tiếng cả người. Mấy cô gái cố kềm tiếng khóc bật to chỉ ôm nhau sụt sùi tiếc thương đứa em ngoan 14 tuổi đầu đã ra đi bằng cái chết thê thảm.
Trời mờ sáng, mọi người xuống địa đạo với tâm trạng nặng nề đau xót. Đồng chí On xung phong cùng Tám Hiền, Năm Thanh dè dặt lần dò trở lại nơi xảy ra thảm họa cho Lũy, cố tìm thi thể em. Nhưng sức nổ cực mạnh cùng lúc của hai quả mìn định hướng đã pha trộn thể xác em hòa tan trong đất bụi. Một mảnh vải nhỏ của bộ đồ em mặc cũng không còn vươn vất nơi lùm cỏ chà cây. Một giọt máu của em cũng bị vùi lấp hoặc tan biến trong khói bụi. Lũy chết để lại chúng tôi nỗi đau như muối xát lòng!
Trong cuộc vây quét của giặc Mỹ vào căn cứ, có tiểu đội vệ binh đóng cùng cụm rừng với chúng tôi cách xa trên 200 mét. Quân Mỹ không biết nên không chú ý đến. Vì vậy chúng tôi vẫn để anh em bám cứ, mặc dù một toán đông Mỹ chốt ngay trước mặt tiểu đội.



