Bài viết

TIẾNG RU

11/08/2026Phường Lâm Viên - Đà Lạt ((LĐ) Đoàn phường Lâm Viên - Đà Lạt)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

C

hiếc thoi cần mẫn vẫn nhè nhẹ thoăn thoắt. Mỗi lần thoi đi qua về lại, con chim gỗ trên khung cửi lại gật gù như mừng vì có thêm một sợi tơ vừa được kết vào tấm lụa. Khoảng vàng mịn màng trước mắt cứ dôi dài ra để rồi được cuộn vào, cuộn vào mãi như một niềm vui thầm kín không dứt. Bà Loan nhìn tấm lụa như ngó vào một mặt gương, trong đó bản thân cũng được hồng hào lên do thành quả của đôi bàn tay mình kết dệt. Niềm vui ấy tăng lên gấp bội khi nghe tiếng gọi, giọng non trong:

-   “Bể Đại Hải đang đầy” rồi câu gì nữa hả mẹ?

Bà nhìn con mỉm cười sung sướng: “Ồ, con của mẹ ngoan quá!”. Đôi cánh tay thạo làm đồng và chăm dệt cửi siết chặt con vào lòng nhưng rồi bà lại vội buông ra. Bà không muốn cầm giữ bước chân đang tung tăng và tiếng nói lảnh lót của con mình, một con chim non mới bắt đầu bay nhảy. Cậu bé vẫn ngóng đợi. Hiểu ý con, bà âu yếm:

-   Để mẹ bày tiếp, con nhé!

Được nhắc lại rõ ràng rành rọt, cậu bé vừa đi vừa nhẩm, cứ nhằm hướng nhà bà ngoại mà sang.

Bà mẹ đếm từng bước đi của con, lòng lâng lâng: “Có vàng, vàng chẳng hay phô. Có con, con nói trầm trồ mẹ nghe”.

Bà trở lại với công việc và dệt vừa được vài con suốt, cậu bé lại đã đến gần. Lần này, cậu bắt mẹ nhắc lại với mình suốt cả khúc ca. Khi cậu thiu thiu ngủ thì với âm thanh dịu dàng của bà, khúc ca đã là một lời ru:

Núi Trường Sơn còn thẳm 

Bể Đại Hải đang đầy  Vua nước Nam đà theo Tây  Cho dân tình thậm khổ....

Không khí trong ngôi nhà lá bỗng trở nên nghiêm trang bởi lời ru oán hờn và sâu thẳm ấy.

-           Bé Cung của dì đâu? - Bà An bước vào. Câu hỏi thay cho lời chào. Tuy hỏi vậy, bà An đã nhìn thấy cậu bé nằm trong võng. Bà cười.

Bà Loan ngước lên:

-           A! Dì đến. Ngủ ngoan chóng dậy mà chơi với dì, con!

-           Ấy, nhè nhẹ, để yên cho cháu ngáy! - Nói đoạn, bà An ngồi xuống bên chị và mải về chuyện hát phường vải đêm qua.

Hai chị em bà Loan thì từ thuở tóc chấm ngang vai, sở trường của họ đã khéo bổ sung cho nhau. Cô chị nhanh ý khéo đặt câu hát nhưng e lệ, kín tiếng. Cô em thì mạnh dạn trong việc cất lời ca. Khi hai người ngồi chuyện trò về ví dặm thì cứ như là tằm nhả tơ.

Vùng làng Sen, làng Chùa có câu chuyện truyền miệng:

Một bận, các cụ Tú San và Hoe Ba từ trên làng Bố Ân cùng xuống hát. Các cụ cố giấu tiếng. Nhưng lạ, ngồi chưa ấm chỗ, họ đã nghe giọng cô An: Đằng xa em đã ngóng chừng Nhìn trăng nhớ tán, trông rừng nhớ hoa.

Các cụ nhẩm: “Tán tức Tán SuTú San, HoaHoa Be tức Hoe Ba. Ấy chết, bà ấy xướng danh mình rồi!”. Thế là hai cụ nảy người lên như giẫm phải lửa. Trong nhà, các cô ra sức đấm vào lưng nhau mà cười. Riêng bà Loan, bà cứ quay xa kéo sợi với vẻ thẹn thùng bởi mọi người đang nhìn bà, mến phục.

Xóm làng vẫn mừng thầm vì các con của cụ Đường thật sáng dạ. Trong gia đình siêng làm và ham học ấy, sự trọng tài năng, quý nhân phẩm của cha mẹ đã trở thành đức tính chung.

Về xã Hưng Thái (Hưng Nguyên)1, chúng tôi được gặp cụ Trần Thị Tuất, con gái bà Hoàng Thị An. Đang mải nói về cánh đồng cao sản, người xã viên già bỗng chuyển sang lời sâu lắng:

- Dì Loan là chị ruột mẹ tôi. Sinh thời, mẹ tôi ít nói đến mình mà thường nhắc đến dì. Chuyện về dì được mẹ tôi kể thành những mẩu dễ nhớ. ___________

1. Nay thuộc thị trấn Hưng Nguyên, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. 

Chuyện kể rằng, bữa ấy là buổi chiều mồng năm Tết. Từ trên Thịnh Lạc đi về, ông ngoại tôi phải giữ cho tấm áo kép khỏi bị gió thổi bạt đi và đã kéo nghiêng chiếc nón gò găng xuống mà mưa phùn cứ hắt vào mặt. Gió chiều mỗi lúc một mạnh. Đồng rất vắng, thỉnh thoảng mới có đôi người đi tạt qua. Ai cũng co ro dù đã mặc ấm hơn những ngày thường.

Về đến Dăm Quan, ông tôi gặp một con trâu từ trong bụi rậm bước ra chặn ngang lối đi. Trên mình trâu, một cậu con trai thu mình trong chiếc tơi lá, tay cầm một cuốn sách. Thật là chuyện bất ngờ.

Ông tôi liền hỏi:

-     Trời lạnh quá, sao cháu cho trâu về muộn thế?

Cậu bé chào đáp lại rồi cứ nhìn ông tôi mãi. Chắc vì câu hỏi của ông tôi khá ân cần nên cái nhìn của cậu cũng thật kính cẩn. Đoạn, cậu lại chăm chú nhìn vào cuốn sách đã gần như nhàu nát.

Ông tôi bảo cậu:

-     Thôi cháu, đi về kẻo tối.

-     Dạ, cháu xin chào ông, - Cậu bé lễ phép đáp, xong lại nhìn vào sách.

Khi đã bước xuống giữa cánh đồng Phú Đầm, ông tôi vẫn ngoái lại nhìn. Con trâu cứ phe phẩy đuôi hiền lành gặm cỏ và người chủ bé nhỏ của nó lúc này mới lấy chân thúc vào mình trâu mà ra hiệu bảo nó đi về.

Bà cụ Tuất nhai thêm một miếng trầu rồi tiếp:

-     Nghe nói cũng giờ phút ấy ở làng Sen, ông Nguyễn Sinh Thuyết, anh của cậu bé chờ mãi không được nên đã đánh đường đi tìm em. Bà Thuyết cũng phải đậy cỗ bàn lại rồi ra đường đứng đợi.

Đã lâu năm trong nghề dạy học, ông tôi ít gặp những học trò chăm chỉ như vậy. Nghe thuật chuyện, bà tôi rất mến cậu bé chăn trâu nọ, trước hết vì đó là người ham học. Bà tôi cũng là con một nhà Nho. Cố ngoại tôi đã lận đận nhiều ở trường thi. Bà tôi ra đời khi ông cụ đậu tú tài khóa thứ hai nên gia đình đặt cho là cô Kép, Nguyễn Thị Kép. Hai nhà kết nghĩa thông gia với nhau cũng vì nghĩa văn chương, tình bè bạn.

Khi biết cậu mồ côi cả cha lẫn mẹ thì bà càng thương. Cho đến khi ông tôi xin với ông Thuyết để đem cậu về nuôi thì bà tôi coi cậu như con của mình.

Người con trai làng Sen ngồi trên mình trâu mà học bài ấy chính là dượng Nguyễn Sinh Sắc của chúng tôi.

Cũng theo các cụ làng Chùa kể lại, nhờ sự cố công kèm cặp của cụ Đường, việc học của cậu Nguyễn Sinh Sắc ngày càng tấn tới. Về sau, cụ gửi cậu xuống học với nhà danh nho yêu nước Nguyễn Thức Tự1. Trường học của cụ nổi tiếng ở Nghệ Tĩnh. Rất nhiều nhà khoa bảng có tiếng tăm ở vùng này

___________

1. Nguyễn Thức Tự (1841-1923) hiệu Đông Khê, quê làng Đông Chữ, xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc. Nhân dân tôn kính gọi là cụ Sơn vì năm 1880, cụ được bổ làm Sơn phòng Chánh sứ Hà Tĩnh.

vốn theo học ở đây. Thời gian được xuống học dưới đó là dịp cậu sinh đồ Nguyễn Sinh Sắc có điều kiện tốt nhất để phát triển trí lực. Không lâu sau, cậu trở thành người bạn văn chương của cụ Hoàng Đường. Có lúc cậu đã thay cụ Đường giảng dạy cho lớp học trò ở trong nhà. Và chẳng biết tự bao giờ, người con trai hiền hậu, giỏi giang ấy đã được cô con gái đầu lòng của cụ để ý.

Bà cụ Tuất sửa lại vành khăn, tiếp tục câu chuyện:

- Dì Loan tính người chất phác và đoan trang. Mẹ tôi thường nói, việc làm của dì thì chu đáo, điều nghĩ của dì thì đôn hậu, nhân từ. Dì biết nhiều mà nói ít. Lúc dì đến tuổi, con trai của nhiều nhà gia thế đến ngấp nghé đưa tin. Khi mà mục đích của họ không đạt được thì cũng có kẻ gièm pha. Trước những lời ong tiếng ve đó, dì tôi chỉ mỉm cười, tự tin. Có người ngại cho cuộc sống thiếu vốn liếng của dì sau này, dì cũng chỉ cười và nói: “Một bụng chữ bằng nửa hũ vàng”.

Ông ngoại rất vui mừng trước cuộc tình duyên của hai con. Bà ngoại cũng thế. Nhưng bà cũng có phần băn khoăn sợ người ta cười là mình gả con không được môn đăng hộ đối. Ông ngoại phải mượn cớ về chơi Kẻ Sía1 để bàn bạc với cố tôi. Thế rồi nhân ___________

1. Quê bà ngoại Bác Hồ - bà Nguyễn Thị Kép, nay thuộc xã Hưng Đạo, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. 

một buổi bà tôi về thăm nhà, cụ cố gợi chuyện bàn giải mãi bà tôi mới thật thanh thoát.

Dì Loan biết bà tôi tạm thời có những lo nghĩ như thế nhưng dì rất vững tâm. Dì biết những băn khoăn đó cũng là lòng ân cần của mẹ lúc mình sắp ra cửa nhà. Dì chỉ nói với bà tôi: “Có lưng có vai thì có khoai có lúa”. Điều dì tìm thấy và tin được ở dượng tôi là một tấm lòng, một ý chí. Nghĩ như thế, dì tôi đã cùng người bạn đời bước vào cuộc sống chung mà dì biết trước là sẽ không ít gian khổ.

Thế là một gia đình mới được hình thành.

Sát cạnh cây thị mà cụ Hoàng Thế Kỳ đã chỉ, một ngôi nhà nhỏ được dựng lên bằng gỗ tre lấy từ trong vườn, có nứa đại ngàn làm vách, có mía bãi sông làm mái, đủ che nắng mùa hạ, chắn gió mùa đông. Cuộc sống đơn sơ đã không hạn những trang sách mở và vẫn rộng đường thoi đưa. “Sáng trăng trải chiếu hai hàng. Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ”, cảnh ấy vẫn thường diễn ra sau những buổi đồng áng nắng mưa.

Rời nhà riêng của mình mấy bước chân là đến nhà ông ngoại. Một ấm chè xanh vừa chín, có cả xóm giềng cùng uống. Một buồng cau đến thì dẻo hạt, riêng nhà mình ăn không ngon. Buổi đầu hôm sớm mai, khi tắt đèn tối lửa, xóm thôn cùng đùm bọc, chở che.

Trong ngôi nhà bình dị ấy, năm 1884, vợ chồng ông Sắc sinh chị Nguyễn Thị Thanh, một cô gái từ bé đã nhanh nhẹn tháo vát; bốn năm sau sinh anh Nguyễn Tất Đạt, người con trai có khối óc thông minh hiếm thấy; và đến năm 1890, gia đình và quê hương đất nước đón chào một người con mới, cậu Nguyễn Sinh Cung.

Cứ mỗi lần một người cháu ra đời lại đem đến cho gia đình họ Hoàng một niềm vui lớn.

Cụ Đường đến thăm cháu giữa lúc hai con đang cùng trò chuyện. Nhìn khuôn mặt cậu Cung đang lúc ngủ ngon, cụ thấy như tất cả nguồn vui được thể hiện ở đây. Cứ mỗi lúc ngừng giảng bài, cụ lại nghĩ đến khuôn mặt có đôi mắt trong sáng ấy, nên thường giữa hai giờ học, cụ lại đến bên võng, bế cháu lên hôn vào đôi má thơm thơm, bụ bẫm. Lần này cụ cũng chỉ ghé thăm cháu một lúc. Cụ biết giữa hai con còn có những điều cần nói. Cụ muốn họ được tự nhiên.

Bà Loan đón nhận sự thăm hỏi của cha. Bà lại cúi xuống nhìn người con nhỏ. Đôi tay bà chỉ dừng lại mỗi khi hết một con suốt. Tuy nhiên, chiếc tao võng vẫn đung đưa đều đều.

Khi cụ Đường dời gót, hai bà lại tiếp tục câu chuyện về đêm phường vải. Bà An nói, trong đó như có cả lời trách móc của chính mình:

-           Người ta cứ hỏi sao lâu nay không thấy chị tới?

Bà Loan vẫn khiêm nhường dù là trò chuyện với em:

-           Thôi, chị bận việc nhà. Vả lại, chị cũng lớn tuổi rồi, để dành việc đó cho các em.

Thực tình, đêm phường vải mà vắng những người như bà Loan kể cũng thiệt thòi.

Bà Loan nhận rõ hơn trách nhiệm làm mẹ. Bà mừng, em gái bà mới ngày nào cứ đòi chị bẻ cho những câu hát ngắn thì nay đã tự đối đáp dí dỏm lắm rồi. 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn