TIẾNG TRỐNG MÊ LINH
Lịch sử là bản hùng ca vô tận. Vậy làm sao để chỉ cần cấc lời ca là chúng ta sẽ biết đó là nói về sự kiện gì?

TIẾNG TRỐNG MÊ LINH
Năm 111 trước Công nguyên, Nhà Hán dưới thời Hán Vũ Đế xâm lược Nam Việt, chia vùng đất này thành các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố... Vở diễn lấy bối cảnh năm 40 sau Công nguyên tại vùng đất Giao Chỉ, thuộc nước ta ngày nay. Dưới sự thống trị tàn bạo của thái thú Tô Định, câu chuyện được tác giả Việt Dung và đạo diễn Ngô Y Linh xử lý rất khéo léo, tạo nên một tác phẩm giàu cảm xúc.
Tô Định, Tào Uyên, Mã Tắc, Chương Hầu là hiện thân của bốn con vật “rắn, cáo, hổ, khỉ”, đại diện cho sự thâm độc, gian xảo, hung bạo và xu nịnh của bọn thống trị. Mỗi hình ảnh, mỗi tính cách đều để lại những ấn tượng thú vị, khó phai qua diễn xuất của Văn Ngà, Hoàng Giang, Hùng Minh, Bảo Quốc, tạo nên sự tương phản rõ nét với tuyến nhân vật chính diện.
Giỗ Tổ Hùng Vương là một tục lệ có từ ngàn đời của người Việt. Việc tục lệ này bị ngăn cấm càng khiến người xem hình dung rõ hơn sự hà khắc, độc đoán trong chính sách cai trị và đồng hóa của kẻ thống trị. Bọn quan lại tìm mọi cách hủy diệt văn hóa dân tộc Việt, thản nhiên chà đạp lên tín ngưỡng và lòng tôn kính đối với tổ tiên. Trong tuồng có đoạn:
“Mã đô úy, khuyên ông chớ nên đổ dầu vào lửa
Ở cương vị ông, nếu người dân của quý quốc bị người ta bắt phải quên đi
Tổ tiên, lăng miếu, cõi bờ
Sống trong kiếp sống tăm tối thú cầm
Có thể nào cúi đầu mà chịu nhục hay không?”
Không chỉ vậy, bản chất tham lam của chúng còn được thể hiện qua việc vơ vét trống đồng – bảo vật tinh thần của người Việt, với câu thoại đầy ám ảnh: “Ta cần giữ trống chứ không cần giữ mạng.”
Trước tình cảnh ác liệt, những người con đất Việt đã phải đứng lên đấu tranh, phá tan xiềng xích áp bức. Đó là Thi Sách (NSUT Thanh Sang), hai chị em Trưng Trắc (NSUT Thanh Nga), Trưng Nhị (NS Hà Mỹ Xuân) , Đông Bảng (NS Quốc Nhi), cụ Đô Trinh (NS Ba Xây), nàng Tía (NS Kim Hương), Lê Chân (NS Ngọc Nuôi)... Mỗi người có một hoàn cảnh, một xuất thân khác nhau nhưng đều tụ hội dưới lá cờ khởi nghĩa. Và tiếng trống đồng – biểu tượng cho hồn thiêng sông núi – đã được đánh lên, thúc giục lòng người.
Giữ được trống đồng là giữ được hồn nước, giữ được bờ cõi. Tiếng trống đã làm khán giả xúc động đến rơi nước mắt. Hóa ra, hồn nước thật gần đến vậy!
Chắc hẳn, hầu hết ai cũng từng nghe giai điệu:
“Trong giây phút chia tay
Tim nguyện ghi lời thề...”
Giai điệu ấy đã khắc sâu vào lòng người xem niềm tự hào, sự kiêu hãnh về tinh thần kiên cường, bất khuất của các bậc tiền nhân – những con người biết dẹp bỏ tình riêng để nghĩ đến nước non.
“Khi nào trời Mê Linh còn muôn vạn vì sao
Thì còn muôn triệu con tim bừng máu hận,
Vượt gian khổ quyết làm tròn sứ mạng,
Hận nước thù nhà trĩu nặng oằn vai.
Châu Diên trống thúc cờ bay,
Mê Linh rộn dịp đợi ngày xuất quân.
Gươm thề nguyền với non sông,
Đồng lòng em chị tiến công diệt thù.”
Khi Thi Sách, chồng của Trưng Trắc, sa cơ rơi vào tay giặc, Trưng Trắc đứng trước một lựa chọn đầy đau đớn: xếp giáo quy hàng để cứu chồng hay tiếp tục khởi binh chống giặc. Màn đấu tranh tâm lý của Trưng Trắc được khắc họa sâu sắc và đầy ám ảnh. Những quyết định trong cuộc đời không phải lúc nào cũng là lựa chọn dễ dàng; đôi khi, để bảo vệ điều lớn lao hơn, con người phải chấp nhận những mất mát không thể bù đắp. Với Trưng Trắc, đó là sự hy sinh của người chồng.
Thù nhà, hận nước đặt nặng trên vai. Với quyết tâm “Đất nước Nam độc lập muôn đời”, quân và dân ta đã tấn công thành Luy Lâu. Quân của Tô Định thua tan tác, Tô Định phải cắt tóc, cạo râu, giả dạng để chạy trốn về nước.
Bằng lời văn tình cảm mà sâu sắc, tài hoa biểu diễn của các nghệ sĩ gạo cội, Tiếng trống Mê Linh không chỉ là một tác phẩm sân khấu giàu giá trị nghệ thuật mà còn mở ra một kho tàng về lịch sử, văn học và đạo lý ứng xử trong cuộc sống. Tác phẩm góp phần khơi dậy niềm tự hào, tình yêu quê hương, đất nước và ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa, lịch sử của dân tộc Việt Nam.



