Cựu chiến binh

Tiếp lửa cho thế hệ trẻ

Ninh Bình06/06/2026Trường THPT chuyên Lương Văn Tụy (Đoàn phường Hoa Lư)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình ( Nhưng tuổi hai mươi là sao không tiếc)

Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?

( Thanh Thảo)

Có lẽ, ở những năm tháng bom đạn ấy, dù đã qua đi, nhưng vẫn là những dấu ấn khó phai trong lòng mỗi chiến sĩ, bộ đội đi qua. Ở tuổi đôi mươi, với những khát vọng, mong ước được cống hiến 1 chút sức mình cho Tổ quốc. Đi theo tiếng gọi thiêng liêng, nơi máu đỏ vẫn ngày đêm đổ xuống chiến trường, thì đôi chân trẻ ấy với ý chí vàng son, đi qua luỹ tre làng, qua những bờ đê, nẻo đường và đặt chân đến nơi đầu nguồn tiếng gọi. Ông ngoại tôi, tên là Trần Xuân Đình (sinh năm 1946, nay ở Tổ dân phố 4, phường Đồng Hới, tỉnh Quảng Trị, quê ở xã Phù Hoá, huyện Quảng Trạch, Tỉnh Quảng Bình( nay là Quảng Trị)) ở tuổi 22 đã như thế. Những năm hoạt động cách mạng, ông tôi có lẽ không bao giờ quên những khoảnh khắc gian lao, khó khăn, hay những lúc hiểm nguy đến tính mạng, đến những kỷ niệm bên đồng đội mãi là ký ức hoài bão tuổi xuân của ông.

Ông kể: “ Ngày ấy, nhà nước kêu gọi đi bộ đội thế là, ông cùng những người bạn nơi làng xóm cùng đi. Khi ấy, ông mới cưới bà được 3 tháng, dặn dò với bà rằng đi thì sẽ hi sinh, khó mà quay về. Nghe vậy thì bà khóc, mẹ của ông cũng khóc nhưng vẫn sửa soạn cho ông đi, nói với nhau vài câu thì ông lên đường. 20/9/1964 chiếc xe gác 51 lăn bánh, ông ngồi cùng ông Trần Kình, Hoàng Toản, Nguyễn Văn Khởm là những người bạn cùng quê. Ông đi 1 ngày 1 đêm thì đến Hà Tĩnh, dừng chân ăn nắm cơm nơi chỗ dừng xe rồi lại lên đường. Không biết qua bao nhiêu vùng đất rồi đến biên giới Việt – Lào. Tới nơi, có ông Nguyễn Hồ ( Hà Tĩnh), Nguyễn Thi Sĩ ( Hà Tĩnh), cùng những người dẫn đường khác, dẫn ông cùng đồng đội vào hang. Thời Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đất nước ta bị chia cắt Nam – Bắc, nên quân ta ở Bắc không chi viện cho miền Nam về quân sự được, mà miền Nam thì không chi viện cho miền Bắc về lương thực được nên Việt Nam ta đã mượn đường của Lào, tạo ra đường Trường Sơn trên đất Lào. Ông cùng đồng đội ở trong hang Lèn ( cách đồn Cha Lo 3km, bản Pha Nốp 32km). Hàng ngày, buổi sáng thì ăn 1 nắm cơm trắng, rồi bới theo 1 nắm nữa cùng 1 bi đông nước để trưa ăn, rồi cùng anh em đi mở bom đạn, có bom quả dứa, bom bi và nhiều loại khác nữa. Làm xong đến trưa thì nghỉ, ăn cơm với nhau độ 30 phút chứ không có thời gian nhiều rồi lại làm việc tiếp. Đến chiều, cùng nhau đi về rồi xuống suối tắm rửa, chơi đùa tát nước rồi vào ăn tối. Mọi ngày vẫn bình thường, nhưng vì ở trong rừng, nên nhiều thổ phỉ, mà là phỉ của Lào, hay đánh quân ta để cướp súng và đạn nên cũng không ngừng cảnh giác, làm gì cũng đi nhiều người, ít thì 3 người.

Cứ 2-3 ngày thì cấp trên gọi xuống báo tối nay sẽ có đoàn quân Việt Nam qua, và phải đối chiếu mật khẩu. Tầm 16 giờ chiều, ông cùng 2 người nữa sẽ đi bộ 1km xuống dưới đường lớn chờ quân Việt Nam tới, đối chiếu mật khẩu đúng thì ông sẽ dẫn đường cho bộ đội ta vào miền Nam. Ngày qua ngày, sáng thì mở bom đạn, tối thì dẫn bộ đội vô Nam, sáng tầm 4 giờ thì có mặt tại hang. Có những đêm đang ngủ thì máy bay tới, phải dậy rồi canh chừng và thức trắng. Có đêm không ngủ được thì anh em đàn hát, viết thư về cho gia đình báo vẫn khoẻ. Lúc đi làm thì trong balo luôn có 1 dao găm, 2 lựu đạn và 1 khẩu súng Aka. Đôi lúc không đủ cơm ăn thì vào rừng ăn con Vóc, uống nước cũng no. Thời xưa thì có ăn là được, chứ không cần cầu kỳ.”

Ở nơi biên giới thực hiện nhiệm vụ, vẫn có những khoảnh khắc tát nước cùng nhau bên bờ suối, đàn hát khiến em cảm thấy đó là những khoảnh khắc khó phai nhất. Đối với em, những điều ấy đã để lại ấn tượng sâu sắc nhất. Tuổi 22 – tuổi trẻ, những nụ cười hiện hữu là điều quý giá nhất. Có lẽ, giữa những trận mưa bom bão đạn, tiếng súng dồn dập hay những đêm thức trắng đưa bộ đội vào miền Nam thì lứa tuổi căng tràn sức sống ấy vẫn có một niềm tin mãnh liệt, một khát khao cháy bỏng được thể hiện qua từng cung bậc cảm xúc. Sỡ dĩ, những người lính năm nào hồn nhiên chơi đùa bên bờ suối, giờ tóc đã điểm bạc, nhưng những năm tháng sống với nhau như anh em mãi là dấu ấn cho cuộc đời họ.

Mỗi lần được ngồi bên ông và lắng nghe ông kể về những năm tháng chiến tranh xưa, trong lòng em lại dâng lên rất nhiều cảm xúc khó tả. Giọng ông trầm lắng, đôi khi chậm lại như đang sống lại những kỉ niệm xa xôi của một thời bom đạn. Nghe ông kể, em càng cảm nhận sâu sắc hơn tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm và sự hi sinh thầm lặng của thế hệ cha ông. Dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, gian khổ, họ vẫn kiên cường chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc. Những câu chuyện của ông không chỉ giúp em hiểu thêm về một giai đoạn lịch sử đầy gian khó mà còn khiến em trân trọng hơn cuộc sống hòa bình hôm nay.

Theo em, những câu chuyện chiến tranh ông kể có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với thế hệ trẻ ngày nay. Những câu chuyện ấy không chỉ giúp chúng em hiểu rõ hơn về một giai đoạn lịch sử đầy gian khổ, hi sinh của dân tộc mà còn giúp chúng em cảm nhận được giá trị thiêng liêng của độc lập, tự do và hòa bình.Bên cạnh đó, những câu chuyện chiến tranh còn góp phần giáo dục cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và ý thức biết ơn sâu sắc đối với những người đã hi sinh vì Tổ quốc. Những điều ấy nhắc nhở em phải sống có trách nhiệm hơn, biết trân trọng những gì mình đang có. Từ những bài học về tinh thần dũng cảm, ý chí kiên cường và sự đoàn kết trong chiến tranh, thế hệ trẻ có thêm động lực để vượt qua thử thách trong học tập và cuộc sống. Nhờ những câu chuyện ông kể, em hiểu rằng nhiệm vụ của thế hệ trẻ hôm nay không chỉ là ghi nhớ quá khứ mà còn phải tiếp nối truyền thống tốt đẹp của cha ông, không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức để góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp và văn minh.

Từ câu chuyện ông kể về chiến tranh, em học được nhiều bài học sâu sắc và ý nghĩa. Qua những kỉ niệm của ông, em hiểu rõ hơn về một giai đoạn lịch sử đầy gian khổ nhưng cũng rất hào hùng của dân tộc. Chiến tranh đã để lại vô vàn mất mát, đau thương, song chính trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm và ý chí kiên cường của thế hệ cha ông lại được thể hiện rõ nhất. Nhờ đó, em càng thấm thía rằng nền hòa bình hôm nay là thành quả được đánh đổi bằng xương máu và sự hi sinh lớn lao của biết bao con người. Bên cạnh bài học về lòng yêu nước, câu chuyện của ông còn giúp em nhận ra giá trị của ý chí và nghị lực sống. Dù phải đối diện với bom đạn, đói rét và sự chia ly, ông và đồng đội vẫn giữ vững niềm tin, không khuất phục trước hoàn cảnh. Điều đó trở thành động lực để em nhìn lại bản thân, học cách vượt qua những khó khăn trong học tập và cuộc sống, không nản lòng trước thử thách. Ngoài ra, em còn học được bài học về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với quê hương, đất nước.

Em mong muốn chia sẻ câu chuyện này để nhiều người, đặc biệt là thế hệ trẻ, có cơ hội hiểu rõ hơn về những năm tháng lịch sử. Việc chia sẻ câu chuyện này giúp mọi người cảm nhận sâu sắc hơn giá trị của hòa bình, độc lập và tự do, từ đó biết trân trọng cuộc sống yên bình mà mình đang có. Bên cạnh đó, em mong rằng câu chuyện chiến tranh của ông sẽ góp phần khơi dậy trong mỗi người, nhất là thế hệ trẻ, lòng biết ơn đối với các thế hệ đi trước đã hi sinh vì Tổ quốc. Hơn hết, em mong muốn thông qua việc chia sẻ câu chuyện này, những giá trị tốt đẹp như lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần vượt khó sẽ tiếp tục được lan tỏa. Đó cũng là cách để thế hệ trẻ hôm nay giữ gìn kí ức lịch sử, tiếp nối truyền thống vẻ vang của dân tộc và góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn