Tiểu đoàn 1 Anh hùng thuộc Trung đoàn 36, Sư đoàn 308
Tiểu đoàn 1 Anh hùng thuộc Trung đoàn 36, Sư đoàn 308
Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 36 (Trung đoàn Bắc Bắc) tiền thân là Tiểu đoàn 55 thuộc Trung đoàn 36 được thành lập ngày 22/8/1946 tại Đáp Cầu, Bắc Ninh. Tháng 3/1950, Trung đoàn 36 trực thuộc Đại đoàn 308, Tiểu đoàn 55 được đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 80. Đến năm 1955, Tiểu đoàn 80 đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 1.Lập công xuất sắc trong kháng chiến chống PhápNgay sau khi thành lập Tiểu đoàn 55 cùng với Trung đoàn Bắc Bắc bước vào cuộc chiến đấu quyết liệt chống địch càn quét và phát triển chiến tranh du kích ở hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh), Tiểu đoàn đã lập công xuất sắc trận Cẩm Lý (21/7/1948). Đặc biệt trận diệt đồn Á Lữ (3/12/1948) với cách đánh bí mật, dùng bộc phá mở hàng rào, phá lô cốt địch rồi xung phong đánh thẳng vào trung tâm đồn, Tiểu đoàn đã diệt gọn một trung đội lính Âu Phi của địch làm chủ đồn, bắt tù binh và thu toàn bộ vũ khí của địch. Với chiến công tiêu biểu này Tiểu đoàn 55 được Bộ Tổng tư lệnh tặng danh hiệu “Tiểu đoàn Á Lữ” .Tháng 3/1950, Trung đoàn 36 chiến đấu trong đội hình Đại đoàn 308, Tiểu đoàn 55 được đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 80. Tiểu đoàn đã lập công xuất sắc trận Khâu Luông (Chiến dịch Biên giới năm 1950); tiêu diệt đồn Yên Phụ (Chiến dịch Trung Du cuối năm 1950); trận Cam Giá - Kỳ Vỹ (Chiến dịch Hà Nam Ninh năm 1951) và đặc biệt trận Chân Mộng – Trạm Thản (Chiến dịch Tây Bắc năm 1952), Tiểu đoàn 80 cùng với các đơn vị Trung đoàn 36 hành quân thần tốc từ Tây Bắc về Phú Thọ vượt chặng đường dài 200km với tinh thần chủ động, tích cực tiêu diệt địch, Tiểu đoàn cùng các đơn vị Trung đoàn đã tiêu diệt và làm tan dã hoàn toàn quân địch từ Chân Mộng đến Trạm Thản đánh bại cuộc hành quân Lo-rên của Pháp. Trung đoàn đã “tiêu diệt 400 tên địch, bắt sống 84 tên, phá hủy 44 xe cơ giới (trong đó có 17 xe tăng, xe bọc thép), thu 1 xe tăng còn nguyên vẹn của chúng .
Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 36 tiến công truy kích Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù ngụy khu vực Miếu Bái Sơn (Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào năm 1971)Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Tiểu đoàn 80, Trung đoàn 36 thuộc Đại đoàn 308 đã lập nhiều chiến công xuất sắc. Tiêu biểu là trận đánh cứ điểm 206 với chiến thuật “đánh lấn” sáng tạo: đào hào áp sát, bất ngờ xung phong tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch. Sau trận này, Trung đoàn được Võ Nguyên Giáp khen ngợi vì mở ra chiến thuật mới hiệu quả. Ở trận cứ điểm 311B, chiến sĩ Trần Đình Hùng đã dũng cảm lấy vai làm giá đỡ súng ĐKZ, bắn tiêu diệt hỏa điểm địch, góp phần giúp đơn vị hoàn thành nhiệm vụ.Sau chiến tháng Điện Biên Phủ năm 1954, Trung đoàn 36 trong đội hình Đại Đoàn 308 tham gia chiến dịch mùa hè ở Trung Du đánh vào tuyến phòng thủ của địch trên đường số 13, 14 (Bắc Giang). Tiểu đoàn 80 (Trung đoàn 36) được giao nhiệm vụ đơn vị chủ lực đánh vào cứ điểm Cầu Lồ. Ngày 13/7/1954, Tiểu đoàn 80 được hỏa lực của Trung đoàn chị viên tiến công cứ điểm Cầu Lồ, áp dụng chiến thuật vây lấn, đào chiến hào qua hàng rào dây thép gai quanh đồn, dùng pháo, súng ĐKZ, Bazoca bắn phá hủy lô cốt đầu cầu. Sau đó Tiểu đoàn chia làm hai mũi tiến công vào trung tâm đồn, sau 20 giờ chiến đấu ác liệt tiểu đoàn đã tiêu diệt hoàn toàn căn cứ Cầu LồChiến công đầu trong kháng chiến chống MỹTrong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 36, Sư đoàn 308 đã lập công xuất sắc trong chiến dịch Đường 9 – Nam Lào năm 1971 và chiến dịch Quảng Trị năm 1972.Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào năm 1971, Tiểu đoàn 1 cùng với các đơn vị Trung đoàn 36 được giao nhiệm vụ tiến công truy kích Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù ngụy từ Bản Đông theo trục đường 16 tiến lên hòng chiếm lại căn cứ 31 (điểm cao 456). Đêm ngày 3/3/1971, Khi thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù hành quân đến khu vực đồi Không Tên trên trục đường 16. Tiểu đoàn 1 và các đơn vị Trung đoàn 36 đã vào vị trí, sẵn sàng chờ lệnh nổ súng. Mũi chủ công là Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 do Đại đội trưởng Nguyễn Tân Bá chỉ huy được lệnh nổ phát súng đầu tiên, từ các vị trí nằm ém sẵn của Đại đội 2 ngay từ loạt đạn đầu tiên gầm lên làm 12 xe tăng địch cháy liền, Đại đội phó Chương dẫn một mũi xông thắng vào đội hình quân địch. Trung đội trưởng Thức bỏ súng tiểu liên của mình, vồ lấy ba khẩu súng B40 của các chiến sĩ bị thương lao lên bắn liên tiếp vào cụm xe tăng, thiết giáp của địch. Trời càng về sáng tình hình càng trở lên ác liệt, Tiểu đội trưởng Lộc tai đã bị điếc đặc vẫn dũng cảm dùng khẩu B40 bắn cháy liên tiếp bốn xe bọc thép của địch. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 2 dũng cảm chiến đấu làm tê liệt hoàn toàn vòng ngoài của cụm xe tăng địch. Lúc này cả vùng đồi Không Tên trên trục đường 16 đỏ rực những đám cháy và những tiếng nổ lớn, Đại đội 2 đã chiếm được một mỏm đồi buộc quân địch phải co cụm lại chống đỡ. Sáng sớm ngày 4/3/1971, Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 do Đại đội trưởng Nguyễn Văn Toán chủ huy bất ngờ tiến công lên đỉnh đồi Không Tên, máy bay địch lượn trên cao dưới làn khói dày đặc làm chúng mất mục tiêu, chúng chỉ giám bổ nhào giả rồi lại vọt lên cao. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 đã xông lên đánh giáp la cà với quân địch trên đỉnh đồi, trước sức tiến công mạnh mẽ của ta quân địch bị tiêu diệt gần hết, số còn lại bỏ chạy về phía Bản Đông . Chúng bị cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 3 tiếp tục truy kích diệt gọn Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù. Trung đoàn 36 cùng với các đơn vị bạn đã tiêu diệt và làm tan giã hoàn toàn Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù “phá hủy 30 xe tăng M41, 51 xe M113, bắn rơi 3 máy bay F-4H, 4 máy bay trực thăng, diệt và bắt hơn 500 tên, thu nhiều vũ khí, khí tài, trang bị” .
Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 36 tiến công truy kích Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù ngụy năm 1971Trận đầu đánh Mỹ, ngụy ở Miền Nam của Trung đoàn 36 đã giàng được thắng lợi vẻ vang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quan trọng của chiến dịch. Qua trận đánh xuất hiện nhiều tấm gương mưu trí, dũng cảm như Đại đội trưởng Nguyễn Tấn Bá chỉ huy Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 phá vỡ vành đai vòng ngoài của địch và chiến sĩ Nguyễn Xuân Hoan đã nêu một tấm gương sáng về ý chí chiến đấu, trích máu của mình viết đơn kiên quyết xin từ bộ phận phục vụ sang đơn vị chiến đấu mũi nhọn, anh đã chiến đấu dũng cảm, kiên cường và anh dũng hy sinh trong trận đánh. Lá thư chiến sĩ Nguyễn Xuân Hoan, công vụ trung đoàn gửi đồng chí Phan Văn Bích, Phó Chính ủy Trung đoàn: “Kính gửi các thủ trưởng. Chiến đấu trực tiếp với kẻ thù là nguyện vọng mơ ước của tôi, ước mơ ấy, nguyện vọng ấy tôi đã ôm ấp từng ngày, từng giờ…Tôi nằm lại sở chỉ huy lòng như lửa đốt. Nhiều đêm thao thức không ngủ, nghe tin chiến thắng mà lòng vui phơi phới, nghe đồng đội chiến đấu dũng cảm mà lòng cảm phục. Thấy đồng chí bị thương, hy sinh mà lòng thêm căm thù giặc sâu sắc. Thương kính, cảm phục các thủ trưởng vô hạn, bởi vì tuổi già sức yếu, đầu bạc mà còn hăng hái lăn lộn trong bom đạn giáp mặt với quân thù. Huống chi chúng tôi là thanh niên khỏe mạnh lại chịu ngồi dưới hầm chữ A sao? Tôi xin tha thiết đề nghị được xuống đơn vị chiến đấu. Kính mong được sự đồng ý của các thủ trưởng…”Tham gia chiến dịch Quảng Trị 1972Chiến dịch Quảng Trị năm 1972, Sư đoàn 308 cùng các đơn vị phối thuộc được giao nhiệm vụ tiến công trên hướng Bắc tiêu diệt căn cứ địch tại Miếu Bái Sơn, thọc sâu giải phóng Đông Hà. Trung đoàn 36 được giao nhiệm vụ đánh vào Miếu Bái Sơn. Ngay từ ngày đầu chiến dịch quân ta đã giành được thắng lợi lớn chiếm được các điểm cao 544, đồi Tròn, Quất Xá, Thiện Xuân. Ngày 2/4/1972, quân địch hoảng hốt chạy khỏi Miếu Bái Sơn co cụm về Đông Hà. Được lệnh truy kích địch, cánh quân thứ nhất gồm Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 36) do Trung đoàn trưởng Chử Văn Trác chỉ huy hành quân ban ngày vừa đi vừa dùng súng bộ binh đánh trả máy bay địch bắn ngăn chặn đội hình quân ta. Các chiến sĩ Tiểu đoàn 1 đã bắn rơi một chiếc máy bay lên thẳng, bắt sống phi công ghi chiến công đầu cho Trung đoàn. Đêm ngày 2/4, hai Tiểu đoàn 1, 2 được lệnh vượt sông Cam Lộ bằng bè chuối, túi ni lông sang thôn Đồng Hà (thôn Tây) ở bờ Nam sông Cam Lộ, cùng đơn vị bạn đánh bật quân địch ở thôn Tây lên đường số 9, sau đó Tiểu đoàn 1 bám trụ tại thôn xây dựng trận địa tạo bàn đạp sẵn sàng tiến công Đông Hà. Bị uy hiếp từ hướng Bắc, địch tập trung bom, pháo đánh phá ác liệt phản kích đánh vào thôn Tây hòng đẩy lực lượng ta ra khỏi địa bàn quan trong này. Từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 4, địch sử dụng 3 tiểu đoàn bộ binh được 2 chi đoàn xe tăng thiết giáp có pháo binh, máy bay hiểm trợ mở 9 cuộc phản kích vào thôn Tây. Cuộc chiến đấu giành giậy bàn đạp thôn Tây giữa ta và địch rất quyết liệt. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 dũng cảm chiến đấu kiên cường đánh lui 9 cuộc phản kích của địch, diệt 7 xe tăng và gần 200 tên địch, giữ vững trận địa tạo thế cho cuộc tổng công kích của Sư đoàn 308 giải phóng Đông Hà.
Tiểu đoàn 1, 2 Trung đoàn 36 vượt sông Cam Lộ chiếm thôn Tây năm 1972 Phòng ngự kiên cường tại Tích Tường - Như LệSau khi quân ta rút khỏi Thành cổ Quảng Trị, Trung đoàn 36 được giao nhiệm vụ xây dựng trận địa phòng ngự ở Tích Tường - Như Lệ cửa ngõ quan trong phía Tây thị xã Quảng Trị. Tại Tích Tường – Như Lệ, Trung đoàn 36 được sự giúp đỡ của Sư đoàn 308. Trung đoàn đã thực hiện thành công chiến thuật phòng ngự “cụm chốt liên hoàn” bảo vệ trận địa trước kẻ địch có quân số đông, hỏa lực mạnh. Toàn Trung đoàn đã hình thành một hệ thống các cụm chốt liên hoàn với nhau, mỗi tiểu đoàn là một cụm chốt, mỗi trận địa chốt có trận địa chốt chính, trận địa chốt phụ, trận địa phục kích đánh địch từ xa. Mỗi cụm chốt đều có một lực lượng sẵn sàng cơ động tiến công đánh địch từ vòng ngoài. Toàn bộ hệ thống các cụm chốt liên hoàn của Trung đoàn đều có hỏa lực pháo binh nhiều cấp sẵn sàng chi viện khi cần thiết. Đây là một hình thức chiến thuật phòng ngự rất sáng tạo. Với hình thức chiến thuật “cụm chốt liên hoàn” và phương châm tác chiến phòng ngự được trung đoàn đề ra: -Tích cực, chủ động đánh địch từ xa để bảo vệ trận địa của mình. - Vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật tập kích, phục kích địch trong phòng ngự. Chú trọng tập kích địch bằng hỏa lực và bằng tiến công nhỏ lẻ để phá trước các cuộc tiến công của địch vào địa bàn chốt giữ của ta. – Vừa đánh tiêu hao địch, vừa ra sức củng cố xây dựng lực lượng của mình. Cùng với ý chí quyết tâm chiến đấu rất cao của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn suốt hơn hai tháng liền từ (15/9 đến 26/11/1972), Trung đoàn đã liên tục chiến đấu đánh lui 40 trận tiến công của hai Lữ đoàn dù thay phiên nhau đánh vào cụm chốt liên hoàn của Trung đoàn. Các đơn vị chốt giữ của Trung đoàn đã đánh nhiều trận xuất sắc, tiêu diệt nhiều địch bảo vệ được lực lượng ta và khu vực được giao. Nổi bật là cụm chốt của Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 ở phía Đông làng Tích Tường, ven sông Thạch Hãn, địa thế của cụm chốt nằm trên dải đất hẹp thấp, thời tiết mua lũ, bom pháo địch đánh phá ác liệt, hầm hào sụt lở, lương thực, vũ khí thiếu thốn. Song với chiến thuật “cụm chốt liên hoàn” cùng tinh thần chiến đấu kiên cường, dũng cảm, mưu trí, linh hoạt cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 đã anh dũng chiến đấu, giành giật với địch từng căn hầm, từng đoạn hào liên tục đẩy lùi nhiều lần phản kích của địch. Có lần địch tiến công chiếm được chốt nhưng rồi lại bị cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 dũng cảm phản kích lấy lại. Đặc biệt có ngày địch đánh vào chốt tới 12 lần, đại đội có thời điểm chỉ còn 3 tay súng vần ngoan cường chiến đấu giữ vững trận địa, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 1 tổ chức lực lượng chi viện đánh bật quân địch khỏi chốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ .Với những thành tích xuất sắc trong chiến đấu, Tiểu đoàn 1 đã được tặng thưởng 2 huân chương Quân công hạng ba; 2 Huân chương chiến công hạng nhất, 22 Huân chương chiến công các loại cho các đơn vị trong tiểu đoàn. Ngày 23/9/1973, Tiểu đoàn 1 vinh dự được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân .Kỷ vật gắn liền với chiến công của Tiểu đoàn 1 anh hùng
Khu vực trưng bày Nơi hội tụ các đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trực thuộc Quân đoànTại Bảo tàng Binh đoàn quyết thắng đang lưu giữ và trưng bày một số hiện vật tiêu biểu gắn liền với những chiến công của Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 36) anh hùng như Súng Tiểu liên AK (số đăng ký 979/K3-279) của đồng chí Chấn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 80 (nay là Tiểu đoàn 1) sử dụng trong trận tiến công cứ điểm Cầu Lồ ngày 13/7/1954 (Chiến dịch mùa hè năm 1954). Súng Tiểu liên Cạc Bin (số đăng ký 524/k3-185) chiến lợi phẩm Tiểu đoàn 55 (nay là Tiểu đoàn 1) thu được của địch trong trận tiêu diệt đồn Cẩm Lý ngày 21/7/1948. Đạn Rốc két (số đăng ký 545/K3-207) chiến lợi phẩm Tiểu đoàn 80 (nay là Tiểu đoàn 1), Trung đoàn 36 thu được của quân pháp trong trong trận Khâu Luông (Chiến dịch Biên giới năm 1950). Súng AR-15 (số đăng ký 506/K3-167) chiến lợi phẩm Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 36 thu được của địch tại Quảng Trị năm 1972.
Súng Tiểu liên AK của của đồng chí Chấn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 80 (nay là Tiểu đoàn 1) sử dụng trong trận tiến công cứ điểm Cầu Lồ ngày 13/7/1954
Súng Tiểu liên Cạc Bin, chiến lợi phẩm Tiểu đoàn 55 (nay là Tiểu đoàn 1) thu được của địch trong trận tiêu diệt đồn Cẩm Lý ngày 21/7/1948
Đạn Rốc két, chiến lợi phẩm Tiểu đoàn 80 (nay là Tiểu đoàn 1), Trung đoàn 36 thu được của quân pháp trong trong trận Khâu Luông (Chiến dịch Biên giới năm 1950)
Súng AR-15, chiến lợi phẩm Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 36 thu được của địch tại Quảng Trị năm 1972Những hiện vật quý giá này gắn liền với chiến công của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 36, Sư đoàn 308 để tuyền truyền, giáo dục tuyền thống cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn về truyền thống “Tiên phong, anh dũng, đoàn kết, kỷ luật, thần tốc, quyết chiến, quyết thắng” của Đại đoàn Quân tiên phong anh hùng và truyền thống “thần tốc, quyết chiến, quyết thắng” của Quân đoàn./.Trần Ngọc Hân (Bảo tàng, Cục Chính trị, Quân đoàn 12)
Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 36 tiến công truy kích Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù ngụy khu vực Miếu Bái Sơn (Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào năm 1971)Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Tiểu đoàn 80, Trung đoàn 36 thuộc Đại đoàn 308 đã lập nhiều chiến công xuất sắc. Tiêu biểu là trận đánh cứ điểm 206 với chiến thuật “đánh lấn” sáng tạo: đào hào áp sát, bất ngờ xung phong tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch. Sau trận này, Trung đoàn được Võ Nguyên Giáp khen ngợi vì mở ra chiến thuật mới hiệu quả. Ở trận cứ điểm 311B, chiến sĩ Trần Đình Hùng đã dũng cảm lấy vai làm giá đỡ súng ĐKZ, bắn tiêu diệt hỏa điểm địch, góp phần giúp đơn vị hoàn thành nhiệm vụ.Sau chiến tháng Điện Biên Phủ năm 1954, Trung đoàn 36 trong đội hình Đại Đoàn 308 tham gia chiến dịch mùa hè ở Trung Du đánh vào tuyến phòng thủ của địch trên đường số 13, 14 (Bắc Giang). Tiểu đoàn 80 (Trung đoàn 36) được giao nhiệm vụ đơn vị chủ lực đánh vào cứ điểm Cầu Lồ. Ngày 13/7/1954, Tiểu đoàn 80 được hỏa lực của Trung đoàn chị viên tiến công cứ điểm Cầu Lồ, áp dụng chiến thuật vây lấn, đào chiến hào qua hàng rào dây thép gai quanh đồn, dùng pháo, súng ĐKZ, Bazoca bắn phá hủy lô cốt đầu cầu. Sau đó Tiểu đoàn chia làm hai mũi tiến công vào trung tâm đồn, sau 20 giờ chiến đấu ác liệt tiểu đoàn đã tiêu diệt hoàn toàn căn cứ Cầu LồChiến công đầu trong kháng chiến chống MỹTrong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 36, Sư đoàn 308 đã lập công xuất sắc trong chiến dịch Đường 9 – Nam Lào năm 1971 và chiến dịch Quảng Trị năm 1972.Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào năm 1971, Tiểu đoàn 1 cùng với các đơn vị Trung đoàn 36 được giao nhiệm vụ tiến công truy kích Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù ngụy từ Bản Đông theo trục đường 16 tiến lên hòng chiếm lại căn cứ 31 (điểm cao 456). Đêm ngày 3/3/1971, Khi thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù hành quân đến khu vực đồi Không Tên trên trục đường 16. Tiểu đoàn 1 và các đơn vị Trung đoàn 36 đã vào vị trí, sẵn sàng chờ lệnh nổ súng. Mũi chủ công là Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 do Đại đội trưởng Nguyễn Tân Bá chỉ huy được lệnh nổ phát súng đầu tiên, từ các vị trí nằm ém sẵn của Đại đội 2 ngay từ loạt đạn đầu tiên gầm lên làm 12 xe tăng địch cháy liền, Đại đội phó Chương dẫn một mũi xông thắng vào đội hình quân địch. Trung đội trưởng Thức bỏ súng tiểu liên của mình, vồ lấy ba khẩu súng B40 của các chiến sĩ bị thương lao lên bắn liên tiếp vào cụm xe tăng, thiết giáp của địch. Trời càng về sáng tình hình càng trở lên ác liệt, Tiểu đội trưởng Lộc tai đã bị điếc đặc vẫn dũng cảm dùng khẩu B40 bắn cháy liên tiếp bốn xe bọc thép của địch. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 2 dũng cảm chiến đấu làm tê liệt hoàn toàn vòng ngoài của cụm xe tăng địch. Lúc này cả vùng đồi Không Tên trên trục đường 16 đỏ rực những đám cháy và những tiếng nổ lớn, Đại đội 2 đã chiếm được một mỏm đồi buộc quân địch phải co cụm lại chống đỡ. Sáng sớm ngày 4/3/1971, Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 do Đại đội trưởng Nguyễn Văn Toán chủ huy bất ngờ tiến công lên đỉnh đồi Không Tên, máy bay địch lượn trên cao dưới làn khói dày đặc làm chúng mất mục tiêu, chúng chỉ giám bổ nhào giả rồi lại vọt lên cao. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 đã xông lên đánh giáp la cà với quân địch trên đỉnh đồi, trước sức tiến công mạnh mẽ của ta quân địch bị tiêu diệt gần hết, số còn lại bỏ chạy về phía Bản Đông . Chúng bị cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 3 tiếp tục truy kích diệt gọn Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù. Trung đoàn 36 cùng với các đơn vị bạn đã tiêu diệt và làm tan giã hoàn toàn Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù “phá hủy 30 xe tăng M41, 51 xe M113, bắn rơi 3 máy bay F-4H, 4 máy bay trực thăng, diệt và bắt hơn 500 tên, thu nhiều vũ khí, khí tài, trang bị” .
Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 36 tiến công truy kích Thiết đoàn 17 và Tiểu đoàn 8 dù ngụy năm 1971Trận đầu đánh Mỹ, ngụy ở Miền Nam của Trung đoàn 36 đã giàng được thắng lợi vẻ vang, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quan trọng của chiến dịch. Qua trận đánh xuất hiện nhiều tấm gương mưu trí, dũng cảm như Đại đội trưởng Nguyễn Tấn Bá chỉ huy Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 phá vỡ vành đai vòng ngoài của địch và chiến sĩ Nguyễn Xuân Hoan đã nêu một tấm gương sáng về ý chí chiến đấu, trích máu của mình viết đơn kiên quyết xin từ bộ phận phục vụ sang đơn vị chiến đấu mũi nhọn, anh đã chiến đấu dũng cảm, kiên cường và anh dũng hy sinh trong trận đánh. Lá thư chiến sĩ Nguyễn Xuân Hoan, công vụ trung đoàn gửi đồng chí Phan Văn Bích, Phó Chính ủy Trung đoàn: “Kính gửi các thủ trưởng. Chiến đấu trực tiếp với kẻ thù là nguyện vọng mơ ước của tôi, ước mơ ấy, nguyện vọng ấy tôi đã ôm ấp từng ngày, từng giờ…Tôi nằm lại sở chỉ huy lòng như lửa đốt. Nhiều đêm thao thức không ngủ, nghe tin chiến thắng mà lòng vui phơi phới, nghe đồng đội chiến đấu dũng cảm mà lòng cảm phục. Thấy đồng chí bị thương, hy sinh mà lòng thêm căm thù giặc sâu sắc. Thương kính, cảm phục các thủ trưởng vô hạn, bởi vì tuổi già sức yếu, đầu bạc mà còn hăng hái lăn lộn trong bom đạn giáp mặt với quân thù. Huống chi chúng tôi là thanh niên khỏe mạnh lại chịu ngồi dưới hầm chữ A sao? Tôi xin tha thiết đề nghị được xuống đơn vị chiến đấu. Kính mong được sự đồng ý của các thủ trưởng…”Tham gia chiến dịch Quảng Trị 1972Chiến dịch Quảng Trị năm 1972, Sư đoàn 308 cùng các đơn vị phối thuộc được giao nhiệm vụ tiến công trên hướng Bắc tiêu diệt căn cứ địch tại Miếu Bái Sơn, thọc sâu giải phóng Đông Hà. Trung đoàn 36 được giao nhiệm vụ đánh vào Miếu Bái Sơn. Ngay từ ngày đầu chiến dịch quân ta đã giành được thắng lợi lớn chiếm được các điểm cao 544, đồi Tròn, Quất Xá, Thiện Xuân. Ngày 2/4/1972, quân địch hoảng hốt chạy khỏi Miếu Bái Sơn co cụm về Đông Hà. Được lệnh truy kích địch, cánh quân thứ nhất gồm Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 36) do Trung đoàn trưởng Chử Văn Trác chỉ huy hành quân ban ngày vừa đi vừa dùng súng bộ binh đánh trả máy bay địch bắn ngăn chặn đội hình quân ta. Các chiến sĩ Tiểu đoàn 1 đã bắn rơi một chiếc máy bay lên thẳng, bắt sống phi công ghi chiến công đầu cho Trung đoàn. Đêm ngày 2/4, hai Tiểu đoàn 1, 2 được lệnh vượt sông Cam Lộ bằng bè chuối, túi ni lông sang thôn Đồng Hà (thôn Tây) ở bờ Nam sông Cam Lộ, cùng đơn vị bạn đánh bật quân địch ở thôn Tây lên đường số 9, sau đó Tiểu đoàn 1 bám trụ tại thôn xây dựng trận địa tạo bàn đạp sẵn sàng tiến công Đông Hà. Bị uy hiếp từ hướng Bắc, địch tập trung bom, pháo đánh phá ác liệt phản kích đánh vào thôn Tây hòng đẩy lực lượng ta ra khỏi địa bàn quan trong này. Từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 4, địch sử dụng 3 tiểu đoàn bộ binh được 2 chi đoàn xe tăng thiết giáp có pháo binh, máy bay hiểm trợ mở 9 cuộc phản kích vào thôn Tây. Cuộc chiến đấu giành giậy bàn đạp thôn Tây giữa ta và địch rất quyết liệt. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 dũng cảm chiến đấu kiên cường đánh lui 9 cuộc phản kích của địch, diệt 7 xe tăng và gần 200 tên địch, giữ vững trận địa tạo thế cho cuộc tổng công kích của Sư đoàn 308 giải phóng Đông Hà.
Tiểu đoàn 1, 2 Trung đoàn 36 vượt sông Cam Lộ chiếm thôn Tây năm 1972 Phòng ngự kiên cường tại Tích Tường - Như LệSau khi quân ta rút khỏi Thành cổ Quảng Trị, Trung đoàn 36 được giao nhiệm vụ xây dựng trận địa phòng ngự ở Tích Tường - Như Lệ cửa ngõ quan trong phía Tây thị xã Quảng Trị. Tại Tích Tường – Như Lệ, Trung đoàn 36 được sự giúp đỡ của Sư đoàn 308. Trung đoàn đã thực hiện thành công chiến thuật phòng ngự “cụm chốt liên hoàn” bảo vệ trận địa trước kẻ địch có quân số đông, hỏa lực mạnh. Toàn Trung đoàn đã hình thành một hệ thống các cụm chốt liên hoàn với nhau, mỗi tiểu đoàn là một cụm chốt, mỗi trận địa chốt có trận địa chốt chính, trận địa chốt phụ, trận địa phục kích đánh địch từ xa. Mỗi cụm chốt đều có một lực lượng sẵn sàng cơ động tiến công đánh địch từ vòng ngoài. Toàn bộ hệ thống các cụm chốt liên hoàn của Trung đoàn đều có hỏa lực pháo binh nhiều cấp sẵn sàng chi viện khi cần thiết. Đây là một hình thức chiến thuật phòng ngự rất sáng tạo. Với hình thức chiến thuật “cụm chốt liên hoàn” và phương châm tác chiến phòng ngự được trung đoàn đề ra: -Tích cực, chủ động đánh địch từ xa để bảo vệ trận địa của mình. - Vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật tập kích, phục kích địch trong phòng ngự. Chú trọng tập kích địch bằng hỏa lực và bằng tiến công nhỏ lẻ để phá trước các cuộc tiến công của địch vào địa bàn chốt giữ của ta. – Vừa đánh tiêu hao địch, vừa ra sức củng cố xây dựng lực lượng của mình. Cùng với ý chí quyết tâm chiến đấu rất cao của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn suốt hơn hai tháng liền từ (15/9 đến 26/11/1972), Trung đoàn đã liên tục chiến đấu đánh lui 40 trận tiến công của hai Lữ đoàn dù thay phiên nhau đánh vào cụm chốt liên hoàn của Trung đoàn. Các đơn vị chốt giữ của Trung đoàn đã đánh nhiều trận xuất sắc, tiêu diệt nhiều địch bảo vệ được lực lượng ta và khu vực được giao. Nổi bật là cụm chốt của Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 ở phía Đông làng Tích Tường, ven sông Thạch Hãn, địa thế của cụm chốt nằm trên dải đất hẹp thấp, thời tiết mua lũ, bom pháo địch đánh phá ác liệt, hầm hào sụt lở, lương thực, vũ khí thiếu thốn. Song với chiến thuật “cụm chốt liên hoàn” cùng tinh thần chiến đấu kiên cường, dũng cảm, mưu trí, linh hoạt cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 đã anh dũng chiến đấu, giành giật với địch từng căn hầm, từng đoạn hào liên tục đẩy lùi nhiều lần phản kích của địch. Có lần địch tiến công chiếm được chốt nhưng rồi lại bị cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 dũng cảm phản kích lấy lại. Đặc biệt có ngày địch đánh vào chốt tới 12 lần, đại đội có thời điểm chỉ còn 3 tay súng vần ngoan cường chiến đấu giữ vững trận địa, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 1 tổ chức lực lượng chi viện đánh bật quân địch khỏi chốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ .Với những thành tích xuất sắc trong chiến đấu, Tiểu đoàn 1 đã được tặng thưởng 2 huân chương Quân công hạng ba; 2 Huân chương chiến công hạng nhất, 22 Huân chương chiến công các loại cho các đơn vị trong tiểu đoàn. Ngày 23/9/1973, Tiểu đoàn 1 vinh dự được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân .Kỷ vật gắn liền với chiến công của Tiểu đoàn 1 anh hùng
Khu vực trưng bày Nơi hội tụ các đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trực thuộc Quân đoànTại Bảo tàng Binh đoàn quyết thắng đang lưu giữ và trưng bày một số hiện vật tiêu biểu gắn liền với những chiến công của Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 36) anh hùng như Súng Tiểu liên AK (số đăng ký 979/K3-279) của đồng chí Chấn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 80 (nay là Tiểu đoàn 1) sử dụng trong trận tiến công cứ điểm Cầu Lồ ngày 13/7/1954 (Chiến dịch mùa hè năm 1954). Súng Tiểu liên Cạc Bin (số đăng ký 524/k3-185) chiến lợi phẩm Tiểu đoàn 55 (nay là Tiểu đoàn 1) thu được của địch trong trận tiêu diệt đồn Cẩm Lý ngày 21/7/1948. Đạn Rốc két (số đăng ký 545/K3-207) chiến lợi phẩm Tiểu đoàn 80 (nay là Tiểu đoàn 1), Trung đoàn 36 thu được của quân pháp trong trong trận Khâu Luông (Chiến dịch Biên giới năm 1950). Súng AR-15 (số đăng ký 506/K3-167) chiến lợi phẩm Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 36 thu được của địch tại Quảng Trị năm 1972.
Súng Tiểu liên AK của của đồng chí Chấn, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 80 (nay là Tiểu đoàn 1) sử dụng trong trận tiến công cứ điểm Cầu Lồ ngày 13/7/1954
Súng Tiểu liên Cạc Bin, chiến lợi phẩm Tiểu đoàn 55 (nay là Tiểu đoàn 1) thu được của địch trong trận tiêu diệt đồn Cẩm Lý ngày 21/7/1948
Đạn Rốc két, chiến lợi phẩm Tiểu đoàn 80 (nay là Tiểu đoàn 1), Trung đoàn 36 thu được của quân pháp trong trong trận Khâu Luông (Chiến dịch Biên giới năm 1950)
Súng AR-15, chiến lợi phẩm Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 36 thu được của địch tại Quảng Trị năm 1972Những hiện vật quý giá này gắn liền với chiến công của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 36, Sư đoàn 308 để tuyền truyền, giáo dục tuyền thống cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn về truyền thống “Tiên phong, anh dũng, đoàn kết, kỷ luật, thần tốc, quyết chiến, quyết thắng” của Đại đoàn Quân tiên phong anh hùng và truyền thống “thần tốc, quyết chiến, quyết thắng” của Quân đoàn./.Trần Ngọc Hân (Bảo tàng, Cục Chính trị, Quân đoàn 12)

