Anh hùng Lực lượng vũ trang

Tiểu đoàn 2 - Đặc công U1 Biên Hòa

Tiểu đoàn 2 - Đặc công U1 Biên Hòa

Đồng Nai02/07/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Long Bình là nơi đặt kho hậu cần lớn nhất của quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam, nơi dự trữ đủ các loại bom đạn đưa từ Mỹ sang để mang đi đánh phá phong trào cách mạng toàn miền Nam.

Địch cho ủi phá khu vực Long Bình Tân và Tam Hiệp để xây dựng các dãy kho và đưa vào sử dụng từ cuối năm 1965, cả khu vực kho rộng hơn 40km2, nằm sát trục lộ 15 và xa lộ Biên Hòa - Sài Gòn, cách Sài Gòn về phía Bắc 20km, thành phố Biên Hòa 7km về hướng Đông. Trong tổng kho Long Bình có Bộ Tư lệnh dã chiến II Mỹ, Bộ Tư lệnh hậu cần số 1 của Mỹ; lực lượng Mỹ và tay sai thường xuyên có 2 ngàn tên.

Tổng kho Long Bình tổ chức phòng thủ chặt chẽ, bao bọc xung quanh từ 7-12 lớp rào kết hợp gài mìn trái. Các lô cốt cách nhau 30-40m, nằm cách lớp rào cuối cùng từ 40-50m. Bên trong có nhiều tuyến hào nối các lô cốt, đường đi, lối lại ngang dọc, 2 bên đường đều rải hàng rào kẽm gai.

Hai khu kho quan trọng trong tổng kho là khu kho đồi 50 và đồi 53, có 18 dãy nhà kho với khoảng 200 gian chia làm 3 khu (mỗi khu 6 dãy), mỗi dãy cách nhau 100 mét, các nhà cách nhau 60 mét. Nhà kho xây hình khối chữ nhật (30m x 25m x 5,5m), cửa thép có khóa sắt, xung quanh có ụ đất dày 4-5 mét.

Ngày 2/2/1965, Thị ủy Biên Hòa đã họp triển khai nhiệm vụ do Trung ương Cục và Khu ủy miền Đông chỉ đạo. Hội nghị đã quyết định: xây dựng, củng cố các cơ sở vùng ven và trong nội ô thị xã, tạo bàn đạp cho lực lượng vũ trang tiến công vào các cơ quan đầu não, các căn cứ, sân bay kho tàng của Mỹ. Đối với lực lượng vũ trang, Thị ủy quyết định thống nhất lực lượng đặc công gồm: đội biệt động thị xã Biên Hòa, một trung đội bộ đội địa phương huyện Vĩnh Cửu gồm có 28 cán bộ, chiến sĩ (trong số này có 3 đồng chí đặc công đã qua đào tạo ở trường Quân khu, đã từng kinh qua chiến đấu) cùng lực lượng Trung ương cục tăng cường, bố trí thành 3 chốt đặc công với các địa bàn bám trụ và các mục tiêu tác chiến như sau:

Chốt 1: Do đồng chí Nguyễn Văn Thanh phụ trách làm chốt trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Thu làm chốt phó; lấy Tân Phong, Thiện Tân làm địa bàn đứng chân để xây dựng cơ sở, tạo bàn đạp tiến công vào sân bay Biên Hòa và quân đoàn 3.

Chốt 2: Do đồng chí Nguyễn Tấn Vàng làm chốt trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Thái làm chốt phó; lấy Long Bình Tân, Phước Cang, Hưng Lộc làm bàn đạp xây dựng cơ sở, tạo điền kiện tiến công vào Kho liên hợp Long Bình và cầu xa lộ Đồng Nai.

Chốt 3: Do đồng chí Nguyễn Văn Hải làm chốt trưởng, đồng chí Huỳnh Văn Thanh làm chốt phó, bám tại Hóa An và Bình Trị. Sau Tết Mậu Thân, Chốt 3 chuyển về làm nòng cốt lực lượng vũ trang huyện Vĩnh Cửu. Riêng bộ phận do đồng chí Chín Tiên chỉ huy, tiếp tục bám địa bàn tại Hóa An và Bình Trị.

Tháng 12/1965, Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (khóa III) đã ra nghị quyết khẳng định lại quyết tâm đánh Mỹ và khả năng thắng Mỹ. Thực hiện nghị quyết Trung ương 12, tháng 2/1966, Quân ủy Trung ương đã đề ra 6 phương thức tác chiến chiến lược trong đó có 3 phương thức được bộ đội đặc công không ngừng hoàn thiện đạt hiệu suất cao là:

Phương thức 1: Đánh phá các căn cứ hậu cần, kho tàng, sân bay, hải cảng, cơ quan đầu não địch.

Phương thức 2: Triệt phá các đường giao thông thủy, bộ quan trọng, tạo ra thế bao vây chia cắt địch.

Phương thức 3: Đẩy mạnh hoạt động quân sự ở các đô thị, từ hình thức tác chiến nhỏ kết hợp đấu tranh chính trị, làm công tác dân vận, địch vận, quân báo đến tác chiến lớn, kết hợp tiến công và khởi nghĩa.

Những trận đánh tiêu biểu của Tiểu đoàn 2 - Đặc công U1 Biên Hòa như vào tháng 1/1966, đế quốc Mỹ mở cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất. Địch tập trung quân Mỹ và tay sai, chư hầu Úc càn quét vào các khu căn cứ ở Miền Đông Nam Bộ nhằm tiêu diệt quân chủ lực cách mạng.

Lúc này Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 - đặc công U1 Biên Hòa đã làm tốt nhiệm vụ kết hợp lực lượng vũ trang của địa phương củng cố phát triển các cơ sở nội tuyến và vùng ven đẩy mạnh công tác đấu tranh chính trị, tổ chức tiến công vũ trang diệt ác, phá kìm, xây dựng bàn đạp từ vùng ven đến nội ô, tạo điều kiện phối hợp với vũ trang bên ngoài, tạo vành đại tiến công tiêu hao sinh lực và phương tiện chiến tranh cao cấp của Mỹ và tay sai trong thị xã.

Để phối hợp với chiến trường chung, đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô của đế quốc Mỹ (1965-1966; 1967-1968), Tỉnh đội Biên Hòa U1 chỉ đạo đặc công U1 Biên Hòa liên tục tiến công vào kho Long Bình. Phương châm đánh là táo bạo, chắc, đánh bồi, phá hủy bom đạn, phương tiện chiến tranh của địch. Tiêu biểu là các trận:

Ngày 22/6/1966, 6 chiến sĩ đặc công chia làm 3 tổ: Tổ 1 do Nguyễn Tấn Vàng làm tổ trưởng, tổ 2 do Nguyễn Văn Thái làm tổ trưởng, tổ 3 do Bùi Văn Hòa làm tổ trưởng, vượt rào và chướng ngại vật tiếp cận khu kho đồi 53 đặt mìn có gắn kíp nổ hẹn giờ bằng đồng hồ. Đến sáng 23/6, khu kho đồi 53 bắt đầu nổ, toàn bộ khu kho trùm trong khói lửa. Các phương tiện cứu hỏa của địch đều bất lực. Trận đánh gây thiệt hại nặng cho địch, hủy diệt 40 ngàn quả đạn pháo các loại của Mỹ.

Đêm 26/10/1966, tổ đặc công của Đại đội 2 gồm 6 đồng chí: Nguyễn Văn Vàng, Nguyễn Văn Tư, Bùi Văn Hòa, Trịnh Văn Thoàn, Nguyễn Văn Hóa, Nguyễn Văn Rô, từ bàn đạp Hưng Lộc đã bí mật luồn sâu vào kho Long Bình. 8 quả mìn hẹn giờ được áp sát vào các kho 50, gồm 8 cụm chứa các loại pháo, rốc-két, bom... Lúc 20 giờ, tổ đặc công cho điểm hỏa, một tiếng nổ dậy đất vang lên, tiếp theo sau là nhiều loạt tiếng nổ lớn liên tục. Những cụm khói đen khổng lồ xen kẽ với những chùm lửa xanh đỏ bao phủ cả khu vực Long Bình. Không một máy bay lên thẳng hay xe cứu hỏa nào dám đến cứu chữa, 8 kho bom đạn của Mỹ bị nổ tung; 125 ngàn quả đạn pháo, rốc-két, bom bị phá hủy, 3 dãy nhà kho bị sập, 250 lính Mỹ gác kho bị chết.

Báo Nhân dân số ra ngày 29/10/1966 đã ca ngợi chiến thắng Long Bình, cho đây là một trận chiến táo bạo, tài tình, đánh thủng dạ dày của Mỹ; chính quyền Mỹ cũng phải công khai thừa nhận sự bất lực. Khi được hỏi vì sao Việt cộng đánh vào Long Bình mà vẫn không biết, viên tướng chỉ huy kho Long Bình buồn rầu trả lời: “Nếu tôi biết thì tôi đã là họ rồi”.

Nỗi kinh hoàng chưa dứt, kho Long Bình còn ngổn ngang, bọn Mỹ cấp tốc dựng thêm hàng rào các tua chốt phòng thủ xung quanh kho Long Bình, kể cả tăng cường chó berger và bổ sung các phương tiện điện tử nhằm phát hiện mục tiêu từ xa. Thế nhưng, địch vẫn không ngăn được hoạt động của những chiến sĩ đặc công Biên Hòa với quyết tâm thực hiện lệnh chỉ đạo của Bộ Chỉ huy Miền: “phải đánh và đánh liên tục vào kho bom đạn Long Bình”.

Đêm 17/11/1966, tổ đặc công gồm 6 chiến sĩ do đồng chí Tư Già chỉ huy vượt qua các hàng rào kiên cố và các chốt gác, lọt sâu vào khu đồi 53. Khu này gồm nhiều dãy kho, mỗi dãy cách nhau 20m, các chiến sĩ ta có sáng kiến: cứ cách 1 kho đặt 1 quả mìn vừa tiết kiệm mà vẫn đạt hiệu quả, 4 quả mìn hẹn giờ được đặt vào 4 dãy nhà kho lớn nhất. Đúng 24 giờ, kho Long Bình lại tiếp tục rực lửa. Toàn bộ khu kho 53 bị hủy diệt (gồm 127 kho), 154 ngàn quả đạn pháo 105, 155, 175 ly bị nổ tung cùng một lúc, làm tan xác 1 trung đội lính Mỹ bảo vệ. Tiếng nổ và lửa bốc cháy kéo dài suốt mấy ngày liền làm chấn động cả thị xã và các vùng lân cận.

Đêm 9 rạng sáng 10/12/1966, đặc công U1 Biên Hòa lại tiến công vào kho Long Bình, 2 dãy nhà kho với 74 ngàn quả đạn bị phá hủy.

Cuối năm 1966, Tiểu đoàn 2 Đặc công U1 Biên Hòa bí mật tiến công 3 lần vào tổng kho Long Bình, hủy diệt 353 ngàn đạn pháo và các loại bom của địch. Loạt trận đánh này thể hiện sự dũng cảm, mưu trí, sáng tạo và quyết tâm cao của đặc công U1, được Bộ Chỉ huy Miền tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì.

Đêm 3/2/1967, đặc công U1 Biên Hòa lại đột nhập khu kho đồi 53 đặt mìn hẹn giờ. 2 giờ 45 sáng 4/2/1967, quả mìn hẹn giờ đầu tiên nổ, sau đó là tiếng nổ của 3 quả mìn còn lại, mỗi quả nổ cách nhau 3 phút. Tiếng nổ vang rền suốt 30 tiếng đồng hồ, kích thích dây chuyền làm nổ tung 40 dãy kho bom đạn rốc-két, đại bác, phá hủy 80 ngàn quả đạn pháo các loại khác của Mỹ.

Hiệu quả của trận đánh rất lớn. Theo tin tình báo, do thiệt hại ở tổng kho Long Bình, quân Mỹ đã bỏ dở 2 cuộc hành quân ở miền Tây Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (trung bình mỗi cuộc hành quân, địch dùng đến 21 ngàn quả pháo). Đài BBC nhận định: “Việt cộng đã đánh thủng dạ dày của quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam”.

Dư âm chiến thắng Long Bình còn vang dội, tiếp tục sau đó qua 1 tháng nghiên cứu, lực lượng đặc công Tiểu đoàn 2 đã lên được phương án tác chiến đánh kho xăng Biên Hòa, đến tháng 3/1967 đơn vị cử 2 đồng chí Sáu An và Sáu Châu bí mật vượt qua các chốt gác của bọn bảo an Vĩnh Thị, vượt đường rầy xe lửa đột nhập vào trong kho, quả mìn hẹn giờ được đặt ép sát vào bồn chứa xăng lớn nhất. Trưa hôm sau mìn nổ, từng cuộn khói đen bốc cao, tiếng còi báo động, tiếng xe hú inh ỏi chạy đến tiếp cứu làm náo động cả thị xã. 2 bồn xăng và 2 ngàn phuy xăng đã bị đốt cháy.

Trong trận đánh lúc giao thừa Xuân Mậu Thân năm 1968, đồng chí Phan Văn Trang, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Biên Hòa, nguyên Phó chính ủy Mặt trận Biên Hòa lúc ấy cho biết vào chiều 30 Tết Mậu Thân 1968 tại bìa rừng Sông Mây (Trảng Bom), sau khi quán triệt lần cuối mục đích, ý nghĩa của trận đánh, các lực lượng tham gia chiến dịch nhận lệnh hành quân tiến về các mục tiêu đã được vạch trước.

Đúng giờ giao thừa 0 giờ đêm 30 Tết nhằm ngày 31/1/1968, cuộc tổng tấn công của quân và dân ta đã diễn ra đồng loạt ở miền Nam Việt Nam. Cuộc tổng tấn công đã thực sự làm rung chuyển Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, làm đảo lộn hoàn toàn thế chiến lược của Mỹ, đẩy địch vào thế bị động, bế tắc trên chiến trường, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, tìm một giải pháp thương lượng hòa bình với ta tại bàn đàm phán.

Sáng mùng 1 Tết (tức ngày 1/2/1968), ở khu vực Long Bình, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 5 và đặc công Sư đoàn 5 tấn công vào bãi đậu trực thăng của Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh dã chiến II Mỹ, phá hủy nhiều máy bay trực thăng.

Trong khi đó ở hướng Bắc tổng kho Long Bình, 1 đại đội của Tiểu đoàn 2 đặc công U1 Biên Hòa do đồng chí Trần Văn Thái chỉ huy đã đột nhập vào kho Long Bình ở cao điểm 53, dùng thuốc nổ phá hủy 127 dãy nhà kho chứa bom, đạn của Mỹ. Tiếng nổ và đám cháy trong trận đánh kéo dài nhiều ngày liền làm chấn động thị xã Biên Hòa và các vùng lân cận.

Sau 1 ngày đêm tiến công quyết liệt ở mặt trận Biên Hòa, Trảng Bom; Hưng Lộc, Dầu Giây; Long Thành; Nhơn Trạch và tại chi khu Công Thanh (huyện Vĩnh Cửu), các lực lượng vũ trang giải phóng tiêu diệt gần 10 ngàn quân Mỹ-ngụy, phá hủy và làm hư hỏng 120 máy bay, hàng chục xe tăng, 127 kho bom, đạn và nhiều phương tiện chiến tranh của địch.

Có thể nói cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1968, quân dân miền Nam nói chung, cũng như Biên Hòa, Long Khánh nói riêng gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề, trận đánh trở thành sự kiện vang dội trong và ngoài nước, là đòn báo hiệu sự thất bại thảm hại không gì cứu vãn nổi của quân xâm lược Mỹ trên chiến trường Việt Nam.

Cuối năm 1968, đầu năm 1969, đế quốc Mỹ quay sang thực hiện chiến lược chiến tranh phi Mỹ hóa rồi Việt Nam hóa chiến tranh với “xương sống” là kế hoạch bình định để giành lại quyền chủ động trên chiến trường, từng bước rút quân Mỹ về nước. Trên chiến trường thị xã, địch tập trung đánh phá cách mạng trên 2 lĩnh vực: vùng căn cứ bàn đạp và vùng ven nội ô thị xã. Ở vùng căn cứ Trảng Bom, Hưng Lộc (ấp Hưng Nghĩa), Mỹ và tay sai kết hợp cả bom (do máy bay B52 rải thảm), chất độc hóa học để phá địa hình căn cứ cách mạng với tổ chức các cuộc càn quét liên tục bằng bộ binh, xe tăng tìm diệt lực lượng cách mạng của thị xã, các cơ quan chỉ huy, hậu cần, giao liên của Thị ủy. Lính biệt kích Mỹ và tay sai được tung vào hoạt động đều đặn các cụm rừng căn cứ. Trong các khu phố nội ô và các vùng ven, địch tăng cường cảnh sát lục soát. Bọn công an, tình báo, phượng hoàng, điểm chỉ... được tung ra các nơi, từ khu dân cư lao động tập trung đông dân cho đến dọc các tuyến đường từ ngoài vào thị xã. Địch “quân sự hóa” nhân dân bằng tổ chức phòng vệ dân sự, bắt thanh niên từ 15 tuổi trở lên phải vào tổ chức quân dự bị, tổ chức từng đợt đưa đi tập huấn ở Vũng Tàu; sách báo, đài truyền thanh tuyên truyền cho “Tinh thần anh dũng của các chiến sĩ quốc gia” và huênh hoang cho rằng là đã “hoàn toàn vãn hồi an ninh, trật tự ở thị xã” và “đã đẩy Việt cộng ra khỏi thị xã”.

Tại các căn cứ quân sự, hậu cần quan trọng của địch trong thị xã: Sân bay Biên Hòa, Tổng kho Long Bình, căn cứ Hốc Bà Thức. địch đều thay đổi quy luật phòng thủ, tăng thêm hàng rào kẽm gai, các bãi mìn, chó berger, thay đổi các đơn vị canh gác để đề phòng các tổ chức binh vận và nội tuyến của ta.

Sau đợt tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân lần thứ 3, Tỉnh ủy U1 và Thị ủy Biên Hòa họp đánh giá tình hình thị xã. Thị ủy khẳng định cuộc tiến công và nổi dậy ở thị xã góp phần cùng toàn Miền và cả nước giành thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược. Tuy nhiên, Thị ủy cũng kiểm điểm nghiêm khắc những thiếu sót, khuyết điểm. Tháng 11/1968 tại căn cứ Bàu Hàm (phía Nam sông Đồng Nai) đồng chí Phan Văn Trang, Bí thư U ủy và đồng chí Trần Công An, Tỉnh đội trưởng triển khai Nghị quyết của Trung ương Cục về mở đợt tiến công và nổi dậy Xuân Kỷ Dậu 1969 cho các Huyện ủy và Thị ủy Biên Hòa. Để đảm bảo thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Thị ủy đã chuẩn bị cơ sở vật chất bên trong thị xã, chuẩn bị địa bàn bám trụ trong thị xã, hầm bí mật, củng cố đường dây giao liên, hoàn chỉnh kế hoạch tiến công và nổi dậy Xuân Kỷ Dậu.

Để giành thắng lợi về mặt chiến lược, giữ thế mạnh trên bàn đàm phán Paris, thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Trung ương Cục miền Nam quyết định bố trí lại chiến trường, mở các đợt tiến công đánh bồi, đánh nhồi vào mùa xuân 1969. Tham gia đợt tiến công này, ở chiến trường Biên Hòa, Long Khánh và Phân khu 4 có các lực lượng: Sư đoàn 5 chủ lực miền, lực lượng Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 - Đặc công U1 Biên Hòa, Trung đoàn 33, Trung đoàn 4 cùng các lực lượng vũ trang địa phương.

Theo kế hoạch, đúng giờ G (2 giờ) ngày N (23/2/1969), các lực lượng của ta đồng loạt nổ súng tiến công địch theo các mục tiêu đã định. Ở khu vực Long Bình, pháo binh Miền và của T7 dội trúng nhiều mục tiêu bên trong, nhưng Trung đoàn 2 và Trung đoàn 33 cùng đại bộ phận Tiểu đoàn 2 đặc công Biên Hòa bị địch chặn đánh từ bên ngoài, không vào được. Trung đoàn 4 và Trung đoàn 33 phải chuyển sang đánh diệt bọn lính Thái Lan ở Long Thành; duy nhất chỉ có Đại đội 9 - Tiểu đoàn 2 đặc công lọt vào được trong khu vực kho, đơn vị nhanh chóng tiến công vị trí các kho đồi 53, hàng chục dãy kho bom đạn và nhiên liệu phát nổ dữ dội, lửa cháy sáng rực một góc trời. Địch dùng 1 trung đoàn xe tăng bít kín các lối ra vào kho Long Bình; trên không máy bay trực thăng vũ trang của địch vừa rọi đèn pha, vừa phản kích ác liệt xuống trận địa, Đại đội 9 bị bao vây trong khu kho đã phân tán thành từng tổ, tiểu đội, lợi dụng địa hình, địa vật đánh trả địch quyết liệt, nhưng do lực lượng không cân sức, đại đội 9 đặc công đánh địch đến viên đạn, hơi thở cuối cùng, chỉ còn 2 đồng chí thoát được ra ngoài. Với thành tích trên, Đại đội 9 đặc công và đồng chí Bùi Văn Hòa đã được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng các Lực lượng vũ trang nhân dân.

Cuối năm 1969, 2 đồng chí: Ba Đấu và Chiến là đặc công U1 Biên Hòa được tự vệ mật xã Tam Hiệp dẫn đường, tiến công kho đạn quân Quân đoàn 3. Nhờ sự hỗ trợ của 2 tổ tự vệ mật ở An Hảo và Bình Đa, 2 đồng chí vượt qua nhiều lớp rào kẽm gai, dùng mìn đánh nổ tung kho xăng dầu và bon đạn địch. Hàng tấn đạn và hàng triệu lít xăng tại đây bị nổ suốt 4 ngày liền. Những cuộc tiến công mùa xuân 1969 của quân dân miền Nam và quân dân Biên Hòa - Long Khánh nói chung và Tiểu đoàn 2 đặc công U1 Biên Hòa nói riêng đã gây cho địch nhiều thiệt hại, tạo thêm thế và lực cho ta đấu tranh với địch trên bàn đàm phán.

Đêm 12/8/1972, Tiểu đoàn 2 - Đặc công U1 Biên Hòa cử 11 tổ bí mật tiếp cận mục tiêu, tất cả các cửa kho đều bị ta phá khóa đặt thuốc nổ trong các kho, sau đó từng tổ di chuyển ra khỏi kho an toàn và xóa xong mọi dấu vết. 2 giờ 30 sáng 13/8/1972, từ kho Long Bình, những tiếng nổ long trời lở đất vang lên, cả khu vực hàng chục km2 sáng rực, những cụm khói lớn bao trùm cả khoảng không gian mênh mông; tiếng còi báo động liên hồi rú lên inh ỏi; tiếng nổ kéo dài suốt 2 ngày đêm, làm chấn động cả thị xã Biên Hòa và thành phố Sài Gòn. Các đội cứu hỏa của Mỹ hoàn toàn bất lực. Mãi đến 2 ngày sau, Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh vùng 3 chiến thuật mới dám ngồi trực thăng thị sát cảnh đổ nát ngổn ngang và trơ trụi của khu kho 534:800 ngàn tấn đạn, 1 triệu thùng đạn M-79, 600 tấn mìn định hướng, 325 tấn thuốc nổ, 1 triệu lít xăng dầu hoàn toàn bị phá hủy, gần 200 tên lính Mỹ gác kho bị tan xác. Trận tiến công kho Long Bình lần này đánh làm thủng vào dạ dày quân Mỹ-ngụy. Trước sự thiệt hại quá lớn này, Tư lệnh Quân đoàn 3 phải ra lệnh “tiết kiệm bom pháo tối đa”, mỗi khẩu pháo trong toàn quân đoàn chỉ được phép bắn 3 quả đạn/ngày.

Bị thất bại liên tiếp về mặt quân sự trên khắp các chiến trường vào năm 1972, đặc biệt là bị thua đau trong chiến dịch 12 ngày đêm dùng B.52 đánh phá thủ đô Hà Nội và các mục tiêu quan trọng khác ở miền Bắc, Tổng thống Nixon buộc phải xuống thang chiến tranh, ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và rút hết quân Mỹ về nước.

Trải qua giai đoạn kháng chiến chống Mỹ (1965-1972), Tiểu đoàn 2 - Đặc công U1 Biên Hòa phá hủy hơn 345 kho chứa bom đạn; 587.114 quả đạn pháo các loại và rốc-két; trên 800 ngàn tấn đạn; 600 tấn mìn định hướng 325 tấn thuốc nổ; nhiều bồn xăng và phuy xăng, dầu chứa hàng triệu lít nhiên liệu. Tiêu diệt trên 500 tên Mỹ; Nhiều phương tiện vận tải, chiến tranh của Mỹ. Lực lượng đơn vị thương vong khoảng hơn 200 đồng chí.

Với những thành tích trên, Tiểu đoàn 2, Đặc công U1 Biên Hòa được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất; Huân chương Quân công hạng Nhì; nhiều Huân chương Chiến công và bằng, giấy khen, danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ. Đặc biệt, tháng 9/2014(2), Tiểu đoàn 2, Đặc công U1 Biên Hòa được Nhà nước phong tặng danh hiệu tập thể Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn