Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

TIỂU ĐOÀN 249/E174 VỚI 38 NGÀY ĐÊM TRÊN ĐỒI A1

Đoạn hồi ức là bản tổng kết đầy kịch tính và bi tráng về hai đợt tiến công đồi A1 của Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 174). Từ thất bại đau đớn trong đêm 30/3 do lỡ thời cơ và hỏa lực địch áp đảo, tác giả đã thẳng thắn nhìn nhận những thiếu sót về hiệp đồng để rồi cùng đồng đội phục thù bằng trận đánh mưu trí ngày 6/5. Với sức công phá của khối thuốc nổ 1.000kg kết hợp chiến thuật thọc sâu, cài răng lược táo bạo, đơn vị đã nhanh chóng làm chủ cứ điểm, bắt sống tên chỉ huy Jean Pouget và hội quân trong n

Lai Châu03/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

... Sau Tết Giáp Ngọ, khoảng 6/2/1954, các cán bộ tiểu đoàn và đại đội được triệu tập lên Trung đoàn để quán triệt kế hoạch tác chiến mới, theo phương châm “đánh chắc thắng chắc". Theo kế hoạch này thì mục tiêu của trung đoàn 174 là A1. Trung đoàn quyết định dùng d9 đột phá từ hướng Đông, có nhiệm vụ đánh chiếm khu Trung tâm và khoảng 2/3 vị trí đồi A1. D1 mở đồng thời mũi đột phá theo hướng Đông Nam - Tây Bắc chia cắt và diệt 1/3 vị trí A1 từ hướng Tây, chặn quân phản kích của địch từ A3 lên, bảo đảm cho d9 hoàn thành nhiệm vụ, sau đó tuỳ tình hình d1 sẽ phát triển xuống A3.

A1 là một cứ điểm của địch trên quả đồi cách trung tâm Mường Thanh khoảng 400m về hướng Đông Nam. Trong những năm 40 thế kỉ trước, đây là nơi đặt hành dinh và tư thất của viên tri châu Đèo Văn Ún.

Theo lệnh của Đại đoàn, từ đầu tháng 2/1953 các đơn vị vừa xây dựng trận địa vừa tiến hành trinh sát địch để khi trận địa xong là bắt đầu tấn công.

Nội dung xây dựng trận địa gồm việc đào một trục giao thông hào từ ven rừng nơi trú quân đến trận địa xuất phát tấn công dưới chân đồi A1 với chiều dài gần 4km - yêu cầu hào phải sâu gần 1,5m, rộng gần 0,6m, cứ cách 5-6m lại đặt một hàm ếch và khoảng cách 20-30m lại có một đường nhánh sang hai bên để tránh nhau. Công việc tiến hành hàng tháng trời, càng gần địch, càng khó khăn, nguy hiểm, tốc độ chậm dần, đến thời hạn quy định mà có chỗ chưa đạt yêu cầu.

Ngày 13-3, được biết hôm đó các đơn vị bạn sẽ đánh vài điểm phía Bắc nên bộ đội nghĩ đào hào gần địch để bảo đảm an toàn. Riêng tôi cùng một số cán bộ đại đội đã đến chân đồi A1 để tranh thủ xem động tĩnh của địch, đồng thời cũng kiểm tra lại đoạn giao thông hào ở khu vực xuất phát tiến công, bị địch lấp lúc ban chiều. Khi đến đoạn hào cuối cùng thì một đồng chí dẫm phải quả mìn phát sáng địch cài lại khi lấp hào. Nghe tiếng nổ “bốp”, mọi người vừa kịp nằm xuống trước khi pháo toả sáng thì địch đã bắn liền 2 quả cối 60 ly vào chỗ chúng tôi. Các anh em khác đều an toàn, chỉ mình tôi bị một mảnh đạn vào cánh tay trái, vết thương không to, nhưng bị mẻ một miếng xương nên khá đau. Hôm sau, tuy đau nhưng tôi cũng cố lên Trung đoàn họp để nghe tình hình các đơn vị bạn chiến đấu hôm trước. Thấy tôi bị thương, anh An một mặt động viên, một mặt phê binh nhẹ tôi vì để bị thương không cần thiết trong lúc tình hình đang khẩn trương. Mấy hôm sau đó, vết thương sưng tấy phát sốt nên không lên họp trên Đại đoàn để nghe phổ biến tình hình nhiệm vụ mới. Anh Lê Sơn đã thay tôi kiểm tra, đôn đốc mọi công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu.

Mọi công tác chuẩn bị đã tạm ổn, bộ đội được động viên sẵn sàng chiến đấu. Vào một ngày hạ tuần tháng 3, Đại đoàn tổ chức một cuộc họp cán bộ để tổng kết công tác chuẩn bị và phát động đợt thi đua lập công.

Sau buổi lễ phát động thi đua, chiều 28/3 Đại đoàn phổ biến cho cán bộ tiểu đoàn biết ngày “N” là 30/3. Như vậy các đơn vị có hơn một ngày để kiểm tra lại các công việc đã chuẩn bị.

Từ hôm dự lễ phát động thi đua trên Đại đoàn về, Bằng Khê có vẻ phấn khởi, khoe đã “xin” được văn công xuống tiểu đoàn biểu diễn trước khi bộ đội xuất quân. Nhưng suốt ngày 29/3 không thấy ai nói gì đến văn công. Trời mưa gió tầm tã, hầm hố ướt át, bẩn thỉu, tôi hỏi: Trời đất thế này văn công có xuống không? Nếu xuống thì ở đâu? Kế hoạch biểu diễn thế nào? Lê Sơn ngồi cạnh đó cười khà khà nói: "Thế nào mà em T.C chả đến, người ta đã hẹn nhau rồi! Ta sẽ nhường họ ở khu chỉ huy này, chỉ để Bằng Khê ở lại tiếp thôi, còn mọi người xuống đại đội nằm cũng được". Bằng Khê cũng cười vui vẻ nói: "Đừng lo chuyện đón tiếp, họ chỉ đến một lúc vào chiều mai thôi. Đây không phải là buổi biểu diễn cho bộ đội xem mà chỉ đến múa hát chào mừng trước khi bộ đội xuất quân thôi". Tuy không rõ chương trình cụ thể của đoàn văn công ngày hôm sau ra sao, song mọi người cũng vui vẻ chờ đợi mà không bàn tán gì thêm.

Đêm 29 và sáng 30/3 trời tiếp tục mưa to nhưng buổi trưa thì tạnh ráo. 16g30 ngày 30/3 toàn tiểu đoàn chỉnh tề hàng ngũ tại một khu đất trống ven rừng làm nơi xuất quân. Đứng chính giữa hàng quân là đồng chí Bế Văn Cư đại đội trưởng 317 và 3 đồng chí xung kích. Đứng chếch phía trước, bên phải hàng quân là đồng chí Bích trung đoàn phó (theo lệnh Đại đoàn tăng cường cho chỉ huy tiểu đoàn trong trận này), Ban chỉ huy tiểu đoàn, một số đồng chí trong tiểu đoàn bộ và tổ văn công của đại đoàn 316. Tôi thay mặt Ban chỉ huy tiểu đoàn giao nhiệm vụ cho đại đội 317 cắm lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” lên đỉnh đồi A1 trong đêm nay. Đồng chí Cư thay mặt đại đội nhận cờ và hứa quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Tôi vừa quay người lại đứng ngang hàng với đồng chí Cư và ra lệnh “Chuẩn bị xuất phát” thì có tiếng nói to: “Khoan đã!”, đồng thời tiếng nhạc, tiếng hát của tổ văn công vang lên. Tôi không nhớ tên bài hát nhưng đây là bài hát quen thuộc của bộ đội, nhạc và lời của nó rất hay, thôi thúc tinh thần chiến đấu, lập công của người chiến sỹ với các lời ca:

- Cờ này là Bác Hồ tặng khen
Khi đã hạ quyết tâm
Chiến trường lập công
Bác mong chờ chúng ta diệt thù
Dặn dò các cháu đi là chiến thắng
……………………………………………

Khoảng 18 giờ, tiểu đoàn đã vào vị trí xuất phát theo đội hình hàng dọc thứ tự 317, 316, 315. Sở chỉ huy của tiểu đoàn là chiếc hầm khoét vào sườn núi, cạnh giao thông hào, ngang với vị trí C316. Lúc đó có anh Bích, tôi, anh Bằng Khê và điện thoại, còn cán bộ tác huấn và tổ liên lạc ở hầm bên cạnh. Anh Lê Sơn đi với C317.

Trời đã tối lắm rồi mà chưa thấy động tĩnh gì. Trước khi xuất phát, tôi đã hỏi anh An về giờ nổ súng, anh đáp “không biết”. Tôi cũng thấy anh Bích (trung đoàn phó đi với tiểu đoàn chủ công) hỏi anh An xem có lệnh của Đại đoàn chưa và câu trả lời vẫn là “chưa”.

Chợt tiếng pháo, cối các cỡ nổ vang khắp cả vùng Mường Thanh. Tôi ngồi ngoài cửa hầm thấy rõ những quả pháo 105 ly của ta nổ tung trên đỉnh đồi A1. Trời ơi! lúc này mà tiến hành bộc phá đánh hàng rào là lý tưởng nhất. Tôi hỏi anh Bích: “Đánh nhé?” Anh Bích nói: “Chưa có lệnh”. Tôi sốt ruột quá, 5 phút, rồi 10 phút trôi qua, pháo hoả của ta giảm dần mật độ và thay vào đó là tiếng bộc phá, thủ pháo, trung liên, tiểu liên từ các đồi C, D, E vang lên, chứng tỏ các đơn vị bạn đã tiến hành đột phá bằng bộ binh rồi. Lê Sơn và các đại đội trưởng cũng không kiên nhẫn được, họ chẳng cần giữ bí mật nữa, chạy lại thét lên với tôi “Đánh chưa? Hết thời cơ rồi!”. Tôi cũng chỉ trả lời được là: “Về vị trí, sắp sửa rồi”. Đã 30 phút trôi qua từ khi toàn mặt trận nổ súng, chúng tôi vẫn chờ lệnh. Bỗng anh Bích reo lên: “Có lệnh đánh rồi!”. Thế là tôi vội ra khỏi hầm hét lên “Đánh đi!”. Chưa đầy 1 phút sau, đồng chí Cư báo về “Đã bắt đầu bộc phá”. Tôi theo dõi ánh chớp và tiếng nổ đều đều, biết rằng việc phá hàng rào đang diễn ra thuận lợi. Có thể một phút đầu địch nghĩ rằng ta chỉ nghi binh chứ không đánh A1 nên chỉ dùng hoả lực tại chỗ bắn trả. Mấy ụ súng tiền tiêu của chúng bị hai khẩu đại liên của đại đội trợ chiến do đồng chí Bật đại đội trưởng chỉ huy chế áp mạnh nên đạn bay vọt sang cả chỗ chúng tôi. Chỉ có 2 khẩu cối 81 ly trên đồi A1 và 4 khẩu cối 120 tại A2 của chúng tuy bị 2 khẩu sơn pháo của trung đoàn kiềm chế vẫn bắn được vài loạt đạn về phía đột phá của chúng tôi. Lực lượng tải thương đã phải chuyển một số thương binh về phía sau. Cuối cùng đội bộc phá của C317 cũng phá hết 4 hàng rào dây thép, mỗi hàng cách nhau 6-7m, trong đó có 3 hàng rào kép dày 3-4m và một hàng rào đơn cách lô cốt đầu cầu chừng 1m, kết thúc nhiệm vụ mở cửa bằng việc tiêu diệt lô cốt địch ở đầu cầu. Đội bộc phá đã hoàn thành nhiệm vụ, các đơn vị bộ binh lần lượt theo nhau xông lên. Tôi chỉ kịp nói với anh Bích và Bằng Khê: “Tôi vào đồn đây” và chạy theo C316, theo sát tôi là đồng chí Thái và hai liên lạc viên. Lúc này tại các trận đánh khác có lẽ quân ta đã giải quyết sắp xong hoặc ta, địch đang chiến đấu xen kẽ nhau, nên các loại pháo, cối của chúng gần như đổ dồn vào khu vực đột phá khẩu A1. Từng loạt, từng loạt đạn 155 ly, 105 ly, cối 120 ly thay nhau liên tiếp nổ trên đường tiến của chúng tôi. Số thương vong đã khá nhiều, đồng chí cán bộ tác huấn và một trong hai liên lạc viên theo tôi đã bị ngã. Anh em tải thương khi làm nhiệm vụ cũng bị hao hụt nhiều, nhưng tất cả mọi người, phía trước tôi là C316, sau tôi là C315, những ai còn sức đều cố gắng vượt qua cơn mưa đạn này để cố gắng xông vào đồn tiêu diệt quân thù, không ai lùi bước. Không biết địch đã bắn bao nhiêu tấn đạn và kéo dài bao lâu vào khu vực này. Chỉ biết tính chất ác liệt của nó được biểu hiện ra khi 5g30 sáng 31/3 tôi và anh Dũng Chi bị bật ra theo đường này thì không thấy cái cửa mở qua mấy hàng rào nữa mà xung quanh ngang, dọc, mỗi chiều chừng 50- 60m trên hướng đột phá tối hôm trước không có sợi dây thép gai nào, thậm chí không một chiếc cọc nào nhô khỏi mặt đất 10cm. Tất cả đều bị cắt đứt, còn trên mặt đất dày đặc vết đạn, vết nọ đè lên vết kia, nham nhở cả một mảnh đồi. Tiểu đoàn đã vào được trong đồn nhưng quân số bị hao hụt hơn 1/3.

Vào trong đồn, tôi thúc C316 phát triển nhanh đề tiếp sức cho C317 vì tôi nghĩ Lê Sơn và Cư cũng đang cần chi viện, còn C315 theo kế hoạch phát triển theo hướng Tây Bắc.

Hệ thống phòng thủ trong tung thâm A1 chia làm 3 tuyến, mỗi tuyến bố trí một số ụ chiến đấu trong các căn hầm nhỏ có mái dày chống được pháo của ta, các ụ chiến đấu và các tuyến nối với nhau bằng hệ thống giao thông hào khá sâu. (Tôi đứng gần ngập đầu). Với các cứ điểm độc lập thì cách bố trí này đánh không khó, chúng tôi chỉ cần bố trí một số súng máy kiềm chế các hoả điểm, rồi bộ binh xông lên dùng lựu đạn, thủ pháo tiêu diệt từng điểm một. Nhưng A1 nằm trong hệ thống tập đoàn cứ điểm nên ngoài 2 khẩu cối 81 ly của bản thân ra còn có các trận địa cối 81 ly, 120 ly của A2, A3 và lựu pháo 105 ly của tập đoàn liên tục bắn tới khiến bộ đội ta không thể phát triển trên mặt đất, phải đi một hàng dọc theo các ngách giao thông nên tốc độ quá chậm và cũng rất khó chỉ huy. Địch bố trí sẵn tại các ngách giao thông hào chống cự khá quyết liệt. Đang lúc có những tiếng lao xao: D1 đánh vào sườn D9 rồi! D1 nhầm hướng rồi! Anh Nhuận báo về: “một bộ phận D1 lọt vào đội hình D9”. Thì ra vì trời tối và bị pháo bắn rát quá, bộc phá D1 đã không mở cửa đúng hướng Tây Bắc như kế hoạch lại theo hướng chính Bắc. Tôi nghĩ nhanh trong đầu: gay rồi, không có lực lượng chia cắt địch, kiểu đánh vỗ mặt, dồn địch thế này thì khó có thể diệt gọn! Và cũng từ lúc đó sức kháng cự của địch trong cứ điểm hình như giảm nhiều, còn tốc độ của ta có vẻ nhanh hơn. Khoảng 20 phút sau, quân ta đã vượt đỉnh đồi sang phía tây, nhưng bỗng thấy anh em chững lại và có tiếng hô: Gặp hàng rào rồi! Thì ra đó là chiếc hàng rào đơn dọc theo hướng Bắc- Nam, ngăn khu đông và tây A1. Thấy tình hình khó khăn ngoài dự kiến, tôi lệnh cho đồng chí liên lạc duy nhất còn lại về báo cáo với anh Bích xin đưa đội dự bị vào. Khi đó vào khoảng 24 giờ đêm 30/3.

Nhưng cũng từ lúc ấy, ngoài các khẩu cối quanh đó, các loại pháo 155 ly, cối 105 ly, cối 81 ly, của tập đoàn tới tấp bắn vào đội hình ta. Chúng bắn như mưa rào, nhiều quả đạn rơi cả xuống giao thông hào. Số thương vong tăng nhiều. Có thương binh bị kẹt lại trong hào vì không sao đưa ra được, chúng tôi đành phải lùi dần về đỉnh đồi, đưa thương binh ra và đợi đơn vị bạn đến tiếp sức. Trận pháo kéo dài hàng mấy giờ đồng hồ liên tục khiến nhiều đoạn hào bị sạt lở đến nỗi một số liệt sỹ của ta chưa kịp đem ra cùng cả tử thi địch trong hào cũng bị vùi lấp.

Khoảng 2 giờ sáng, ngoài đạn pháo cầu vồng, tôi phát hiện hình như có tiếng đạn pháo bắn thẳng cỡ 40 ly hay 75 ly từ chân đồi A3 bắn lên và nghĩ bụng: “Mũi chia cắt, chặn viện không thực hiện được thì chắc chắn địch sắp phản kích. Tiếng pháo bắn thẳng đó có thể là của xe tăng địch chuẩn bị”. Tôi rất muốn liên lạc với Lê Sơn, với các đại đội trong tiểu đoàn và Dũng Chi D1, rất muốn báo cáo tình hình với Trung đoàn xin pháo cấp trên chi viện. Nhưng không có phương tiện thông tin nào nên đành bó tay. Lúc này tôi chỉ còn nắm được một tổ chiến đấu của C316 trong đó có anh Nhuận. Chúng tôi biết không thể trụ lâu nổi trước sự bắn phá ác liệt của hoả lực địch, đành phải lui dần. Khoảng 3h sáng vì chân đau do dẫm phải cọc rào và các mảnh pháo (tôi bị đứt dép từ ngoài cửa đột phá), tôi bị tụt lại sau theo một nhánh hào về phía đột phá của d9, còn anh em C316 lại bật sang hướng của d1. Đang mò mẫm đi thì nghe tiếng người trong một hầm chiến đấu của địch, tôi vội vàng ra phía trước chạy vụt vào thì thấy anh Hùng Tân tiểu đoàn phó 255 và anh Hồng Giang chính trị viên đại đội trợ chiến d9 cùng mấy chiến sĩ đang ở đó. Thì ra đồng chí liên lạc do tôi phái về báo cáo với anh Bích đã đến nơi và Trung đoàn đã lệnh cho C924/d255 vào tăng viện từ 1g30 phút sáng 31/3. Nhưng các đồng chí đó vào theo hướng phát triển của C315 nên không gặp tôi. Hướng Tây Bắc là nơi địch bắn phá ác liệt hơn cả nên cả C315 của d9 lẫn C924 của d5 đều bị thương vong nặng nề, mất sức chiến đấu, số còn lại cũng phải lui về bố trí quanh đấy. Tôi hỏi anh Hùng Tân có điện thoại liên lạc với Trung đoàn không thì được biết không có gì! Vì dây điện thoại bị đứt vụn nhiều đoạn, chiến sỹ thông tin đi nối dây bị thương hết. Đang lúc bối rối khó xử, chợt thấy một người chạy ào vào, trời còn tối không rõ mặt người, chúng tôi chưa kịp hỏi thì người đó đã hỏi: “Thằng Hoè đâu?” Té ra là Dũng Chi! Tôi đáp: “Tớ đây!” Anh hỏi tiếp: “Bên này thế nào? Tao hết quân rồi!”.

Sau khi trao đổi, chúng tôi thấy tình hình rất khó khăn, với lực lượng còn lại tại chỗ không thể giữ nổi, cần trình bày cụ thể với Trung đoàn để xin ý kiến trên xem sao. Máy thông tin không có, để chiến sỹ liên lạc về báo cáo không thể nói hết mọi sự việc! Vì vậy chúng tôi nhất trí để anh Hùng Tân sẽ chỉ huy lực lượng bám giữ trận địa, tôi xuống chỗ máy điện thoại báo cáo về Trung đoàn. Dũng Chi ra để tập hợp lại đơn vị chờ lệnh trên. Khi tôi và anh Dũng Chi ra khỏi hầm thì trời đã sáng rõ rồi. Xuống đến hào giao thông gặp anh Lê Sơn và anh Toạ chính trị viên C317 - Nghe anh Sơn, nói tôi biết C317 bị thương vong nặng, số còn lại bị bật ra hướng d1. Tôi mừng vì thấy Lê Sơn an toàn nhưng cũng rất buồn vì tiểu đoàn đã bị tổn thất nặng quá!

Tôi lần đến chỗ điện thoại, được biết anh Bằng Khê và anh Bích sau đó cũng băng qua đột phá khẩu vào đồn nhưng không có phương tiện thông tin, không nắm được đơn vị nào. Cán bộ tác huấn, liên lạc viên theo sau bị thương hết. Bản thân hai anh cũng bị pháo bắn cho không trụ nổi phải bật ra. Tôi gọi điện báo cáo với anh An mọi diễn biến trong đêm. Với giọng lo lắng, anh An nhắc tôi động viên anh em cố giữ lấy đầu cầu để xin trên tiếp viện. Tôi trình bày rõ ràng hiện chỉ còn một bộ phận nhỏ của d5 khó đánh lại quân phản kích của địch.

Từ 6 giờ sáng địch lại bắn như mưa vào nơi anh em C924/d5 đang bám giữ, khoảng 7 giờ sáng 31/5, xe tăng và bộ binh địch chiếm lại đỉnh đồi. Khoảng 8 giờ sáng 31/5, bộ phận cuối cùng của d5 và một số anh em thuộc C315, C316/d9 cũng bị bật ra, anh Hùng Tân bị thương.

Xế trưa, anh An gặp tôi ở chân đồi A1, một phần có thể vì lo lắng do không hoàn thành nhiệm vụ, một phần có thể bực mình vì chúng tôi đánh kém quá nên chỉ nói ngắn: Tập hợp số anh em còn lại để tối nay phối hợp cùng đơn vị bạn của đại đoàn 308 tiếp tục chiến đấu. Tôi báo cáo các cán bộ đại đội, trung đội bị thương vong cả rồi; số chiến sỹ chỉ còn chưa đầy 30 người có thể chiến đấu được. Anh thở dài nhìn hai bàn chân tôi rồi nói: “Cậu đau chân rồi, phải nghỉ thôi. Để tôi bảo Lê Sơn làm việc này". Nói rồi anh hối hả đi gặp Lê Sơn, bảo tổ chức lại lực lượng để cùng số còn lại của d1 tối nay đánh tiếp”.

Tôi được Quân Y dìu về hậu cứ băng bó lại hai bàn chân, vì suốt đêm dẫm vào bùn đất có dính máu của đồng đội nên đã sưng tấy, phải chống gậy mới đi lại được. Chiều tối hôm đó nằm ở hậu cứ, tôi vừa đau vừa buồn, không hiểu anh em mình chiến đấu ra sao? Đang suy nghĩ mông lung thì có một đồng chí thương binh nhẹ về qua kể chuyện rằng: lúc buổi chiều khi đi quan sát vị trí địch có một cán bộ của đơn vị bạn đã nói rằng: “Cái đồn này chỉ cần hỉ mũi một cái là xong, thế mà không đánh được!”.

Tôi cảm thấy xấu hổ vì đã không hoàn thành nhiệm vụ, lại bị đơn vị bạn coi thường. Tôi cảm thấy buồn quá, nhưng cũng giật mình nghĩ: lúc đầu anh em ta cũng chủ quan, cho rằng việc tiêu diệt A1 là không có gì khó khăn. E rằng đơn vị bạn cũng đi theo vết ấy thì sẽ bị vấp nặng đấy! Và đúng như vậy, đơn vị bạn cũng bị tiêu hao một bộ phận và không diệt được địch.

Các trận chiến đấu kéo dài đến 4/4 thì dừng, địch tiếp tục chiếm đóng và củng cố công sự tại đây.

Mấy ngày sau nữa, trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An, chính ủy trung đoàn Trần Huy và các tiểu đoàn trưởng lên Mường Phăng dự hội nghị sơ kết đợt hoạt động.

Không khí cuộc họp thật nặng nề, đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phê phản các khuyết điểm của các đơn vị bằng thái độ rất nghiêm khắc; đã phê bình đồng chí Nguyễn Hữu An và đồng chí Trần Huy; môt trung đoàn phó bị cách chức, một cán bộ tiểu đoàn thuộc trung đoàn 102 bị kỷ luât nặng vì dao động trong chiến đấu. Như vậy có 4 người bị tuyên bố kỷ luật đều do không hoàn thành nhiêm vụ tại A1. Tôi đã nín thở, lạnh người chờ nghe tuyên bố kỷ luật đối với mình, nhưng may quá, không có chuyện gì xảy ra nữa! Tuy vô sự nhưng tôi cảm thấy hơi bất mãn cho cái án kỷ luật này. Dọc đường về, tôi hỏi Dũng Chi: “Cậu nghĩ thế nào về vấn đề thi hành kỷ luật này?”. Dũng Chi nói: “Úi trời! Còn nghĩ nữa! Sợ bỏ mẹ ấy chứ! May cho mày đấy! Hôm nọ tao nghe lỏm mấy ông bàn thi hành kỷ luật cả lũ, trong đó có mày, người bảo phải cảnh cáo, người nói phải cách chức, nhưng không hiểu sao hôm nay cụ Giáp lại tha cho mày!” Tôi hỏi: “Tại sao người ta khép tội tớ, còn cậu thì bỏ qua?” Dũng Chi cười khà khà nói đùa: Tại cậu là tiểu đoàn trưởng chủ công nên tội lớn hơn cả! Tôi cũng bật cười vì tính vô tư và câu nói đùa đó, nhưng cảm thấy ấm ức trong lòng và tự hỏi: “Ai chịu trách nhiệm về việc e174 tham gia chiến đấu chậm tới hơn 30 phút, lỡ mất thời cơ đột phá của đơn vị, sai lệch cả kế hoạch hiệp đồng toàn mặt trận, khiến bộ đội bị thương vong nặng? Tại sao pháo cối địch thoải mái bắn không ngớt vào đầu quân ta mà ta không bị kiềm chế? Tại sao hàng tiểu đoàn địch có xe tăng dẫn đầu xông lên phản kích vào đơn vị chỉ có súng trường, lựu đạn và đã qua suốt đêm chiến đấu mà không thấy ai giúp đỡ, chặn lại? Tại sao cuộc chiến đấu khó khăn, ác liệt thế mà việc thông tin liên lạc lại không thông suốt? Không biết trước khi chiến đấu đã có ai nghĩ đến các vấn đề này không? Cách giải quyết ra sao? Trách nhiệm của những thiếu sót “nguy hiểm chết người” này thuộc về ai? Không hiểu vì sao mọi tội lỗi người ta đổ cả lên đầu cán bộ trung đoàn và tiểu đoàn?

Sau chiến dịch, tôi được điều về thay anh Y, có nhiều dịp cùng làm việc, cùng nghỉ ngơi với anh An, thỉnh thoảng có nhắc đến vấn đề này. Lúc đó anh chỉ thở dài, lắc đầu nói: “Khó lắm! Hình như người ta có định kiến rằng sự việc không thành là do cấp dưới gây nên, còn cấp trên chỉ có liên quan nhẹ thôi. Đối với cậu và Dũng Chi, một số ý kiến đòi phải có kỷ luật, nhưng mình và anh Bích đều nói rằng các cậu không có khuyết điểm gì trong trận này, có lẽ Đại đoàn đã đồng ý như vậy”.

Tôi cảm ơn người chỉ huy đã hết lòng bảo vệ cấp dưới mặc dù bản thân mình cũng bị trên phê phán. Tuy “thoát tội” nhưng chúng tôi cũng thấy tư tưởng chủ quan khinh địch của mình là đáng phê bình.

Đại đoàn lại giao cho trung đoàn 174 nhiệm vụ tiếp tục đánh A1. Đối với d9 vấn đề quân số lúc này là rất khó khăn, 4 đại đội trưởng chỉ còn một đại đội trưởng trợ chiến, đại đội phó không còn ai; cấp trung đội, tiểu đội mất hơn 80%, chiến sỹ chỉ còn khoảng hơn 20 người.

Anh Học Hải và trợ lý chính trị của tiểu đoàn phải đến các trạm quân y tìm và động viên anh em bị thương nhẹ và các bệnh binh mau trở về đơn vị. Một số anh em bị ốm, bị lạc đơn vị trong quá trình hành quân từ Thanh Hoá ra cũng dần dần về tập trung, đến cuối tháng 4 tiểu đoàn đã tổ chức được đủ 4 đại đội nhưng quân số không được đủ như biên chế.

... Khi trao đổi về cách đánh, nhiều người có ấn tượng khá nặng về sự nguy hiểm của chiếc hầm ngầm. Thậm chí có người còn cho rằng nếu không diệt được hầm ngầm thì không thể chiếm được A1. Tôi suy nghĩ khác, vì được trực tiếp chiến đấu suốt đêm 30/3 nên tôi thấy rõ địch đã phát huy có hiệu quả các thế mạnh của chúng là pháo, cối và quân phản kích (có xe tăng yểm trợ trực tiếp). Ngược lại, ta không có cách đánh phù hợp để làm giảm hoặc vô hiệu hoá các thế mạnh của chúng khiến bị thương vong nặng ngay từ đầu, tiếp sau đó càng ngày càng bị động dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ. Theo sự suy nghĩ của tôi thì việc bắn pháo và phản kích có liên quan đến nhau: địch phản kích vì thấy có hy vọng cứu bọn bị đánh. Muốn phản kích thì phải dùng pháo bắn để tiêu hao ta, dọn đường cho quân tiến lên. Nhưng nếu thấy vì lý do nào đó không bắn pháo được hoặc bắn không hiệu quả (ví dụ: ta và quân nó xen kẽ cao độ, không có khoảng cách an toàn, quân phản kích có thể bị ngăn chặn lại trước khi đến đích v.v...) thì khả năng phản kích cũng như bắn pháo có thể giảm đi. Vì vậy nghiên cứu cách đánh phải đề xuất được các biện pháp làm giảm các thế mạnh của chúng.

Hôm được Tư lệnh đại đoàn gọi lên bàn việc, tôi cũng báo cáo về suy nghĩ đó. Khi đồng chí đó hỏi cách đánh, tôi đề nghị Trung đoàn vẫn đột phá theo hai hướng. Hướng chính vẫn như cũ, nhưng phải thực hiện việc thọc sâu chia cắt, nhanh chóng áp sát, tạo thế xen kẽ ngăn chặn không cho địch co cụm hoặc rút về phía A3 hay chui xuống hầm ngầm. Hướng chia cắt nên thực hiện đột phá cách cửa mở cũ của d1 khoảng 50- 60m về phía Tây, phát triển nhanh lên hướng Tây Bắc, cắt 1/3 cứ điểm A1 về phía Tây, vừa có thể chặn đường rút của A1 có thể chặn quân phản kích từ A3 lên. Nếu ta, địch ở trung tâm A1 trong thế cài răng lược trong từng khu vực nhỏ thì pháo địch khó phát huy hiệu quả. Không có hoả lực chi viện mạnh thì quân phản kích của chúng dễ bị chặn lại. Còn đối với hầm ngầm, tôi báo cáo thực là chưa nghĩ ra cách đánh, nhưng theo tôi, nếu có cách nào đó phá được cũng tốt. Nếu không thì cũng không phải là trở ngại lớn vì đó không phải là công sự chiến đấu.

Nghe xong, Tư Lệnh gật đầu nói: “Đã có một số ý kiến tương tự như thế này. Đại đoàn sẽ cùng Trung đoàn trao đổi rồi quyết định sau”

Vài hôm sau đó, Trung đoàn triệu tập cán bộ tiểu đoàn lên phổ biến kế hoạch tác chiến đã được trên xét duyệt, đại ý như sau:

- Sẽ đào một hầm sâu vào lòng núi để đặt thuốc nổ phá hầm ngầm của A1, lực lượng do Đại đoàn bố trí, Trung đoàn cử lực lượng bảo vệ và giúp đỡ khi cần.

- D9 đột phá từ hướng Đông, sau đó tiến hành hai mũi thọc sâu, một mũi phát triển thang sang hướng Tây, một mũi chếch theo hướng Đông - Đông Nam vừa diệt địch vừa bảo vệ sườn bên phải cho d1 phát triển.

- D1 đột phá theo hướng Đông Nam - Tây Bắc chia cắt 1/3 của điểm A1 về phía Tây và chặn quân tiếp viện của địch từ A3 lên A1, tạo điều kiện cho d9 tiêu diệt gọn quân địch ở A1.

- D5 trước mắt làm nhiệm vụ bảo vệ bộ phận đào hầm, chốt giữ Đồi Cháy bảo vệ các đoàn cán bộ đi trinh sát thực địa. Khi chiến đấu làm dự bị cho d9, sẵn sàng phát triển xuống A3 sau khi ta diệt A1.

Nghe xong, tôi đề nghị nên để d5 làm dự bị cho d1 bị uy hiếp từ ba phía (trước mặt và hai bên sườn) nên có sẵn lực lượng phía sau đề phòng lúc khó khăn. Nếu địch phản kích mạnh, d5 có thể nhanh chóng cùng d1 đánh chặn, một khi quân phản kích địch không tiến lên được thì d9 có thể một mình tiêu diệt phần còn lại của A1. Trường hợp d9 gặp khó khăn thì d5 vẫn có thể từ hướng đột phá của d1 đánh ngược sang phía Đông tạo thành 2 mũi giáp công (d5 + d9) bao vây tiêu diệt địch. Và sau khi diệt xong A1, nếu d5 ở phía sau d1 có điều kiện nhanh chóng phát triển sang A2- A3

Công tác chuẩn bị của d9 có phần nhẹ hơn d1, nhưng so với lần trước thì Dũng Chi cũng có nhiều thuận lợi vì ta đã làm chủ Đồi Cháy nên công việc trinh sát được tiến hành cả đêm lẫn ngày sát ngay hàng rào địch. Vất vả hơn cả có lẽ là Đôn Tự. D5 vừa phải giúp đỡ về nhân lực, vừa phải bảo vệ tổ công binh đào hầm ngay dưới tầm ném lựu đạn và cối của địch, suốt hơn 20 ngày đêm ròng rã. Và cũng khoảng thời gian đó các anh phải chịu đựng không biết bao nhiêu bom, đạn địch trút xuống khu vực bố trí tại Đồi Cháy, nơi phải bố trí và bảo đảm cho các đoàn cán bộ đi trinh sát.

Mọi công tác chuẩn bị được tiến hành khẩn trương. Anh em tuy vất vả nhưng không ai kêu ca phàn nàn, tất cả tin tưởng vào thắng lợi sắp tới vì thấy sự chuẩn bị lần này rất chu đáo.

Tư lệnh và Chính ủy Đại đoàn cũng thân đến Đồi Cháy và chân đồn A1 để quan sát tình hình và động viên chúng tôi. Một lần đến thăm chúng tôi, Tư lệnh hỏi: “D9 thế nào?”. Câu hỏi hơi trừu tượng nhưng tôi cũng báo cáo: “Thưa anh, thực lực không bằng lần trước nhưng thế mạnh lại gấp nhiều lần ạ!”. Ông cười gật đầu rồi nói: “Cố gắng nhé!”. Chính uỷ Đại đoàn trước ngày “N” cũng gọi điện động viên chúng tôi.

Cuối cùng mọi công việc đã xong và ngày “N” đã đến. Ngày 5/5 anh An thông báo: đồng chí Nguyễn Đức Y trung đoàn phó, tham mưu trưởng Trung đoàn sẽ tăng cường cho chỉ huy d9 (lại tăng cường) đồng thời nhắc nhở tiểu đoàn một số điều cần chuẩn bị để đơn vị khỏi bị ảnh hưởng của khối thuốc nổ phá hầm ngầm.

Theo dự kiến của các chuyên gia, với trọng lượng 1.000kg, khối thuốc này sẽ có tiếng nổ rất lớn, sức chấn động cực mạnh, có thể làm vỡ mang tai, tức ngực, thậm chí đứt mạch máu não của những người lộ trên mặt đất trong khoảng cách 300m. Ánh lửa chớp của nói có thể làm mù mắt các sinh vật gần đấy khoảng 200-300m. D9, đơn vị gần khu vực nổ nhất, cần phải thực hiện các yêu cầu sau:

- Tất cả phải ở dưới giao thông hào cách xa tâm nổ 300m trở lên

- Nằm quỳ gối, chống tay, nhắm mắt, há mồm chổng mông về hướng nổ

Nghe phổ biến xong, chúng tôi rất lo, nếu khối thuốc không nổ, tổ bộc phá sẽ khó khăn vì khoảng cách 300m quá xa, anh em dễ bị thương vong khi lên phá hàng rào. Anh Lê Sơn đề nghị cho bố trí cách 100m thôi vì ta nằm dưới hào, tâm nổ lại tận trên lưng chừng đồi cao hơn ta tới 10m chắc không ảnh hưởng mấy, nhưng Trung đoàn không đồng ý vì không bảo đảm. Vì vậy chúng tôi phải cấp tốc tăng thêm bộc phá viên dự bị.

19 giờ 00 tối 6/5, toàn tiểu đoàn đã triển khai đội hình hàng dọc dưới giao thông hào, trừ tổ canh gác còn tất cả quay lưng về A1; 19g30 rồi 20 giờ 00. Tôi suốt ruột hỏi anh Y “Sắp đến giờ “G” chưa?”. Anh đáp: “Sắp rồi đấy”. 20g 15 phút vẫn chưa nghe thấy bộc phá nổ. 20 giờ 30 phút, bỗng có tiếng chân người lao xao chạy từ phía A1 lại, phía trước có người hỏi: “Cái gì thế?”. Tôi cũng hỏi tiếp: “Ai đấy?” thì có tiếng trả lời khẽ: “Công binh đây! Điểm hoả rồi! Sắp nổ rồi!”. Anh Y gọi điện về Trung đoàn, còn tôi vội hạ lệnh: “Chống tay nhắm mắt, há mồm!”. Hô xong, tôi cũng vội phục xuống hào, chống tay, há mồm, chổng mông về phía A1. Lúc này thần kinh tôi căng thẳng, chờ đợi tiếng nổ kinh thiên động địa mà thầm lo không biết mình có chịu đựng nổi không. Nếu xảy ra chuyện gì thật tiếc cho bao nhiêu ngày chuẩn bị mà không được chiến đấu. Một phút rồi hai phút trôi qua, sao thời gian chậm thế? Sao mấy “thằng cha” để dây cháy chậm dài thế? Miệng khô, họng rát mà không dám ngậm lại để nhấp nước bọt, đầu ngứa, cổ ngứa cũng không dám bỏ tay ra để gãi, (chống bằng khuỷu tay còn bàn tay bị bịt tai) chỉ sợ mình vừa ngậm mồm vào hay rời bàn tay khỏi tai mà nó nổ thì bỏ mẹ. Cứ thế khoảng 4-5 phút mới nghe thấy “Ục” một tiếng nặng nề kèm theo một làn chấn động nhẹ làm rung rinh mặt đất. Khoảng 1 giây đồng hồ và một ít đất đá vụn bắn xuống chân đồi (chưa đến chỗ đơn vị bố trí).

Có tiếng Lê Sơn quát: “Nổ rồi!”. Tôi không ngờ sự việc lại kết thúc quá nhẹ nhàng so với dự kiến, đồng thời cũng lo lắng vì chưa hiểu kết quả của cái “tác phẩm” này ra sao. Tôi hét to: “Báo cáo anh Y, cho bộ đội lên nhé!” và ra lệnh “Tiến lên”

Khi bàn kế hoạch, chúng tôi nhất trí nếu khối thuốc nổ phá hầm ngầm thành công thì không cần tổ bộc phá lên phá hàng rào nữa, song với tình hình này không rõ, tiếng nổ như vừa rồi có phá được hầm ngầm không và nhất là hàng rào có còn không? (Sau đợt chiến đấu trước địch đã tu sửa lại công sự tiền duyên nhưng mới kịp làm một hàng rào rộng khoảng 3-4m thôi). Nhưng anh Lê Sơn phát hiện thấy một số đất đá văng xuống chân đồi thì phán đoán khu vực ta định mở cửa đã bị phá, khả năng không còn hàng rào nữa nên đã hạ lệnh xung kích theo sau ngay tổ bộc phá. Khi đại đội 317 bắt đầu xuất kích thì các loại pháo của Mặt trận, Đại đoàn, Trung đoàn đã bắn dồn dập vào cửa điểm địch để yểm trợ cho chúng tôi tiến lên.

Khối thuốc nổ đã tạo thành hình phễu trên mặt đất có đường kính khoảng 10m, sâu chừng 3m, tâm nổ cách lô cốt đầu tiên khoảng 15m, hàng rào giây thép gai bị biến mất. Theo kế hoạch từ trước, đại đội 317 từ phía Bắc hố bộc phá đánh chiếm lô cốt đầu cầu rồi chọc thẳng vào trung tâm cứ điểm. Sức chống cự của địch ở hướng này không mạnh lắm. Ngay khi vượt tuyến phòng thù ngoài cùng, anh em đã thấy một số xác địch, cả trên mặt đất lẫn dưới giao thông hào. Có thể số này ở gần tâm nổ của khối thuốc phá hầm ngầm nên bị chấn động mạnh, choáng váng, hoảng loạn, chưa kịp hoàn hồn thì bị pháo ta bắn chết. Khoảng 30 phút chiến đấu, đại đội 317 đã chiếm được trung tâm chỉ huy A1 và phát triển tiếp về phía Tây. Địch ở đây dạt sang 2 bên và tiếp tục bị các đại đội 316 và 315 diệt và bắt sống. Đại đội 316 tiến vào căn cứ địch từ phía Nam hố bộc phá phát triển theo hướng Tây Nam, hướng này địch chống cự khá quyết liệt, đại đội trưởng Trương Duyên bị thương ngay từ đầu, nhưng anh em vẫn tiếp tục chiến đấu hoàn thành nhiệm vụ.

Theo dự kiến, đại đội 315 là dự bị của tiểu đoàn và di chuyển sau 317. Nhưng khi chúng tôi vào cứ điểm địch (các anh Y, Bằng Khê và tôi cùng đi sau C317). Tôi phát hiện một ngách hào từ phía Đông chạy vòng lên phía Tây Bắc. Tôi nhớ ra ngách hào này đã có từ trước, đây là đường rút của địch từ phía Đông xuống phía Tây, và trên mặt đất song song với thành hào là con đường chúng đã cho xe tăng dẫn đầu toán quân phản kích trong trận đánh trước mà tôi đã chứng kiến. Tôi nghĩ phải nhanh chóng điều đại đội 315 đánh sang hướng Tây Bắc để chặn địch rút và chuẩn bị đánh quân phản kích khi cần thiết. Không kịp báo cáo trung đoàn phó Y và Bằng Khê, tôi quay lại gặp đại đội 315 lúc đó đang lục tục kéo nhau lên (315 đi sau 316 nên cách 317 một quãng khá xa). Tôi lệnh cho 315 phát triển ngay sang hướng Tây Bắc chứ không theo sau 317 nữa. Xong rồi tôi quay về sở chỉ huy tiểu đoàn lúc này đang ở trong hầm chỉ huy Trung tâm A1. Hình như mọi người không hài lòng khi thấy tôi vào muộn, anh Y chỉ nhìn tôi mà không nói gì, còn Bằng Khê thì hỏi: “Vừa rồi cậu đi đâu thế?”. Tôi đáp ngắn gọn: “Quay lại lệnh cho 315 đánh lên hướng Tây Bắc, không đi theo 317 nữa. Và 3 người chúng tôi không ai nói gì với nhau nữa. Trận này pháo cối địch bắn không nhiều, hơn nữa đường dây điện thoại rải dưới lòng giao thông hào nên việc liên lạc từ tiểu đoàn xuống các đại đội 317, 316 thông suốt. Riêng đại đội 315 vì là dự bị của tiểu đoàn nên chưa có máy điện thoại - Anh Y liên tục làm việc với Trung đoàn và Lê Sơn, còn tôi ngồi nghe họ nói chuyện. Không khí trong hầm có vẻ hơi nặng nề. Chợt lúc ấy có tiếng súng nổ ở hướng 315. Tôi nghĩ: “Đã có dịp “thoát ly” rồi”. Và nói to với Bằng Khê nhưng cũng để mọi ngươi nghe thấy. “Tôi xuống 315 đây” rồi chui ra khỏi hầm. Chỉ kịp nghe Bằng Khê quát: “Liên lạc theo anh Hoè”.

Lần này mật độ pháo địch bắn vào A1 giảm rất nhiều so với những lần đánh trước. Có thể có nhiều lý do như: không đủ đạn pháo (thả dù ra ngoài), trận địa pháo bị ngập lụt, bị pháo ta kiềm chế v.v... Nhưng theo tôi, lý do quan trọng nhất là ta và quân địch ở vào hai thế xen kẽ cài răng lược, Trung tâm chỉ huy cứ điểm lại bị đánh chiếm ngay từ đầu nên chúng không biết bắn pháo vào đâu.

Lợi dụng tình hình đó và cũng đã biết rõ hướng đi từ lần trước, tôi không đi dưới hào mà chạy tắt trên mặt đất đến một quãng hào có người, nhảy xuống đúng vào đội hình đại đội 315. Tôi vượt lên phía trước gặp đại đội trưởng Hải Bằng và được biết 315 đã diệt được 3 ổ chiến đấu của địch, bắt được một số tù binh, đang tiếp tục phát triển theo hướng Tây Bắc. Địch kháng cự khá mạnh, nhưng ta chỉ có vài trường hợp bị thương. Tiếp đó, tôi đi cùng 315 theo giao thông hào cạnh con đường đất mà những lần trước xe tăng và quân phản kích địch đã từ A3 tiến lên.

Vào quãng gần 3h sáng, bỗng có nhiều loại súng tiểu liên, súng trường nổ cách chỗ chúng tôi khoảng 20-30m về phía Tây. Tiếng đạn bay vèo vèo qua đầu. Tôi chợt nghĩ: địch phản kích à? Nhưng với kinh nghiệm bản thân, thấy không có pháo bắn, tôi hiểu rằng D1 cũng đã đến nơi rồi! Đúng rồi! Chỉ có 10 phút sau có tiếng ồn ào: “Gặp D1 rồi; gặp Sóc Trăng rồi". Tôi lệnh đại đội cho liên lạc với D1, đồng thời tiếp tục sục sạo các ngách hầm, hào xung quanh đó. Không lâu sau đó, có tiếng Hải Bằng vọng về sau: “Báo cáo anh Hoè, có một toán địch ẩn nấp trong hầm, đề nghị cho thủ pháo để đánh”. Lúc đó làm gì còn thủ pháo với bộc phá. Tôi nói: “Cứ gọi hàng đã, nếu không ra sẽ đánh”. Đường hào chật chội đông người, tôi đang len lên thì đồng chí báo vụ đến báo: sở chỉ huy đang gọi tôi nói chuyện. Thì ra sau khi tôi đi khỏi sở chỉ huy, tiểu đội thông tin liên lạc của tiểu đoàn đã bố trí một máy điện thoại sang 315 để nắm bắt tình hình. Thấy tôi đi khá lâu mà không có tin tức gì nên anh Y gọi để nắm tình hình. Tôi báo cáo: đã liên lạc được với d1. C315 đang sục sạo chung quanh, có khả năng diệt hoặc bắt thêm một số địch nữa. Báo cáo xong, tôi vội đi lên phía trước đội hình đại đội. Thấy tôi, Hải Bằng với giọng phấn khởi: “Báo cáo anh Hoè, bắt được thằng chỉ huy A1 rồi” và dẫn tên tù binh đến trước mặt tôi, nói tiếp: “Thằng này là quan ba tạm quyền chỉ huy tiểu đoàn”. Tôi mừng quá, hỏi lại: “Cậu đã hỏi bọn lính xem nó có phải là chỉ huy không?”. Hải Bằng đáp: “Hỏi rồi”. Với vốn liếng tiếng Pháp ít ỏi của mình, tôi hỏi tên tù binh: “Anh là ai?”. Đáp: "Đại uý Giăng Pu-giê, chỉ huy căn cứ Eliane 2”. Nhìn tên tù binh thấy đầu trần, vai không đeo quân hàm, tôi hỏi “Lon đâu?”. Nó không đáp, thò tay vào túi quần móc ra đôi quân hàm đại uý đưa ra trước mặt tôi. Thế là đủ rồi! Tôi nói với anh Hải Bằng: “Các cậu chờ một chút, mình báo cáo về Sở chỉ huy”. Nói rồi quay về chỗ máy điện thoại định báo cáo với anh Y và Bằng Khê nhưng máy điện thoại của Sở chỉ huy đang bận. Tôi sốt ruột hỏi một câu “cầu may”. “Thế máy này có liên lạc được với Trung đoàn không?". Đồng chí báo vụ đáp: “Được ạ”. Tôi mừng quá nói: “Thế cậu cho mình liên lạc với Ban chỉ huy Trung đoàn với”. Chưa đầy 1 phút sau, tôi đã gặp Chính ủy Trần Huy ở đầu bên kia. Tôi đã báo cáo là chúng tôi đã liên lạc được với D1 và bắt được tên chỉ huy cứ điểm A1. Đồng chí Huy hỏi lại: Có đúng thằng chỉ huy không? Tên là gì? Nó bây giờ ở đâu? Anh bây giờ ở đâu? Tôi báo cáo: “Tôi đang đi với C315 ở Tây Bắc A1 chỗ tiếp giáp với d1. Thằng chỉ huy A1 là đại uý Pu-giê, nó đang đứng trước mặt tôi. Chính ủy Trần Huy nói: “Thay mặt Ban chỉ huy Trung đoàn, tôi biểu dương thành tích này của tiểu đoàn 9. Bây giờ anh cho đơn vị bố trí tại chỗ và liên lạc chặt chẽ với d1. Còn anh phải trực tiếp đưa tên chỉ huy A1 về chỗ anh Y ngay. Trung đoàn sẽ cử người tới làm việc”.

Chán thật! Tôi đang định tranh thủ “tạt” qua d1 xem Dũng Chi làm ăn ra sao, nhân tiện “khoe” việc bắt Pu-giê cho cậu ấy thèm, nhưng thế này thì mất thời cơ rồi. Chính uỷ lại bắt mình đích thân dẫn tù binh về. Nếu trước mặt mọi người mà nó phản cung lại không phải là chỉ huy A1 thì không có chỗ nào mà chui. Lại còn đi đường, chẳng may nó bị đạn lạc bắn chết thì mình cũng không sống nổi vì không hoàn thành nhiệm vụ. Và biết đâu mọi người lại nghĩ là mình báo cáo láo để lấy thành tích. Giá biết thế cứ chờ để báo về Sở chỉ huy tiểu đoàn thì hay hơn, dại thật! Nhưng chung quy có lẽ cũng tại cái máy điện thoại. Lần trước không có cái nào đã khổ, lần này nhiều máy quá cũng khổ.

Anh Hải Bằng cho 2 chiến sỹ đi cùng tôi dẫn tên Pu-giê về tiểu đoàn. Đi được chừng 30m, chợt thấy tiếng Dũng Chi hét: “Thằng Hoè đâu?”. So với tiếng gọi của cậu ta tại lô cốt đầu cầu sáng 31/3 thì lần này (sáng 7/5) có vẻ to hơn và phấn khởi hơn. Có tiếng Hải Bằng nói gì đó tôi không nghe rõ. Tôi muốn quay lại nhưng không được vì đã hơi xa và vướng tên tù binh.

Vào đến Sở chỉ huy, thấy không khí ở đây nhộn nhịp vui vẻ lắm, có lẽ vì các đại đội dễ hoàn thành nhiệm vụ và nhất là tiểu đoàn 9 lại bắt được tên chỉ huy cứ điểm A1. Chưa kịp nói chuyện với ai thì báo vụ viên gọi tôi đến máy gặp Tư lệnh Đại đoàn. Vội báo cáo mấy câu với anh Y và bảo liên lạc dẫn tên tù binh sang ngách hầm bên, rồi tôi đến bên máy điện thoại nghe Tư lệnh gọi. Thì ra Đại đoàn và có lẽ cả Mặt trận lúc này cũng đã có tin về việc ta tiêu diệt A1, bắt sống Pu-giê.

Tư lệnh hỏi tình hình diễn biến trận đánh và việc bắt tên quan ba Pu-giê. Nghe xong, ông khen đánh như vậy là tốt và chuyển lời Bộ Tư lệnh biểu dương toàn tiểu đoàn, căn dặn chuẩn bị để có thể tiếp tục làm nhiệm vụ mới. Liền sau đó, anh An gọi điện biểu dương đơn vị và lệnh d9 tập trung hoả lực bắn vào đội hình quân địch đang phản kích lên C2 để chi viện cho 98. Tôi lập tức lệnh cho C315 chuẩn bị địa điểm bố trí hoả lực (nơi C315 đang bố trí đối diện với sườn núi C2, hai bên cách nhau chưa đến 100m) và lệnh cho C trợ chiến chuyển mấy khẩu đại liên, súng cối 81 ly của tiểu đoàn đến ngay C315 nhận nhiệm vụ. Sau đó hội ý nhanh với Bằng Khê và Lê Sơn về chỉ thị của cấp trên. Chúng tôi thống nhất cho anh em tranh thủ nghỉ ngơi lấy sức. Lúc đó đã là 4 giờ 30 sáng 7/5. Xong xuôi rồi tôi lại chạy đến C315, xem việc bố trí hoả lực ra sao. Đến nơi thấy Hải Bằng đang lom khom hướng mấy khẩu súng máy sang phía C2. Thấy tôi, Hải Bằng reo lên: “A! anh Hoè, lúc anh mới đi khỏi, anh Dũng Chi đến hỏi: Thằng Hoè đâu? Tôi nói anh vừa đi rồi!"

Theo dõi anh em bắn chi viện cho 98 đến 8h sáng 7/5, tôi quay về sở chỉ huy được biết d1 đã xuống A3. Nhắc các đơn vị bị bố trí canh gác xong, tôi mới nằm nghỉ một lúc - Khoảng 12 giờ trưa, lúc đang ăn cơm, chúng tôi thấy có 1 toán khá đông lính địch (cả Âu, Phi và nguỵ) từ A2, A3 cầm cờ trắng (vải trắng buộc vào que) đi qua A1 về phía sau - 13 giờ phát hiện một số cứ điểm bên Mường Thanh lác đác có cờ trắng. 15h, theo lệnh Trung đoàn, tôi đem theo một trung đội của 315 lội qua sang bờ phía Tây sông Nộm Rốm nắm tình hình. Sang đến nơi, thấy các cứ điểm đều đã có quân ta kiểm soát nên tôi cho anh em bố trí cạnh bờ sông rồi báo cáo về. Khoảng 17 giờ, Bằng Khê gọi điện báo cho anh em về để chuẩn bị xuống Hồng Cúm.

Lúc này hình như các đơn vị bạn cũng đang thu quân và từng toán tù binh cũng đang được dẫn lên phía Bắc Mường Thanh ra đường Tuần Giáo, về đến chân đồi A1 thấy vắng lặng không một tiếng người, tôi nghĩ có lẽ đơn vị đi Hồng Cúm rồi, lại phải đuổi theo thôi, mệt thật. Lên đến đỉnh đồi, thấy một đồng chí liên lạc đang chờ và báo cho tôi biết đơn vị được lệnh về hậu cứ rồi, không đi Hồng Cúm nữa. Trời đã tối, tôi cho anh em đơn vị về trước ăn cơm, còn 2 đồng chí liên lạc ở lại với tôi (1 người đi cùng tôi, 1 người đón tôi).

Sau khi dặn các đồng chí liên lạc chờ ở cạnh lô cốt đầu cầu, tôi quay lại thăm nơi chúng tôi bắt được tên quan ba Pu-giê, cũng là nơi gặp nhau của hai tiểu đoàn: Bông Lau - Lũng Phầy, địa điểm đã chứng kiến sự kết thúc thắng lợi của toàn thể cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn Cao - Bắc - Lạng trong cuộc chiến đấu dũng cảm đầy hi sinh, gian khổ suốt 38 ngày đêm tại A1 - cứ điểm then chốt, chìa khoá để mở cửa vào trung tâm chỉ huy quân Pháp ở Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Xong rồi, tôi trở lại để một lần nữa ngắm nhìn cái hầm ngầm A1, một công trình kiến trúc đã từng được toàn Mặt trận biết đến và có bao nhiêu người đã tìm cách phá nó nhưng không thành. Cuối cùng, trên đường xuống núi, chúng tôi đi vòng quanh cái hố “thuốc nổ” để quan sát một “tác phẩm” do các đức tính: dũng cảm, kiên trì, thông minh, sáng tạo của những cán bộ, chiến sỹ công binh tạo ra. Chỉ tiếc rằng kết quả của nó chưa được như ý.

Xuống đến khe suối cạn, đường rẽ về hậu cứ, chúng tôi bồi hồi quay đầu lại tạm biệt đồi A1 nơi có biết bao nhiêu đồng chí, đồng đội đã ngã xuống hoặc để lại một phần xương máu trong chiến dịch Điện Biên Phủ, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành độc lập cho muôn đời con cháu mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn