Tiểu đoàn trưởng Trần Thị Bích Vân – Bông hồng thép trên chiến trường Nam Bộ
Tiểu đoàn trưởng Trần Thị Bích Vân – Bông hồng thép trên chiến trường Nam Bộ
Tiểu đoàn trưởng Trần Thị Bích Vân – Bông hồng thép trên chiến trường Nam Bộ
Trần Thị Bích Vân sinh năm 1925 tại Cần Giuộc, Long An. Cha mẹ mất sớm, Vân lớn lên trong sự cưu mang của bà con làng xóm. Từ tuổi thiếu niên, cô đã nhiều lần giúp cơ sở cách mạng chuyển thư, giấu vũ khí. Khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, Vân gia nhập đội du kích Cần Giuộc, trở thành một trong số ít nữ chiến sĩ biết sử dụng thành thạo súng trường, tiểu liên Sten và cả mìn tự chế.
Cuối năm 1947, Vân được điều về lực lượng bộ đội chủ lực Khu 8. Nhờ dũng cảm và có năng khiếu chỉ huy, cô được đề bạt giữ chức Trung đội trưởng, rồi Đại đội phó. Đến năm 1951, cô chính thức được phong Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307 nữ, một đơn vị đặc biệt gồm nhiều nữ chiến sĩ tinh nhuệ.
Một trong những chiến công nổi bật nhất của Bích Vân là trận đánh cầu Bà Tồn năm 1952. Địch dùng xe bọc thép tuần tra gắt gao, nhiều lần càn quét nhằm xóa sạch căn cứ du kích. Vân tổ chức cải trang thành một tốp bán hàng rong để tiếp cận khu vực, bí mật khảo sát vị trí đặt mìn. Đêm 5-11-1952, cô trực tiếp kích nổ quả mìn nặng 12 kg, phá hủy một xe bọc thép và tiêu diệt nhiều tên lính. Sau tín hiệu của cô, toàn tiểu đoàn xung phong, làm chủ trận địa trong 20 phút.
Năm 1953, trong Chiến dịch Đông Xuân, đơn vị của Vân được giao nhiệm vụ đánh vào đồn Tân Trụ – nơi địch án ngữ tuyến giao thông thủy quan trọng. Vân dẫn đầu tổ đột kích, băng qua hào sâu, tay cầm lựu đạn mở đường. Bị mảnh đạn sượt qua vai nhưng cô vẫn quyết không rời trận. Đêm ấy, lá cờ “Quyết chiến – Quyết thắng” do chính cô mang đã tung bay trên nóc đồn.
Không chỉ dũng cảm, Bích Vân còn nổi tiếng vì lòng nhân hậu. Cô thường xin cấp trên cho phép thả những lính Pháp bị bắt khi họ hợp tác, khai báo đúng sự thật. Cô nói: “Họ cũng là nạn nhân của chiến tranh. Thắng trận không chỉ bằng súng, mà còn bằng lòng người.”
Cuối năm 1954, sau Hiệp định Genève, Bích Vân tập kết ra Bắc, tiếp tục học quân sự. Cô được phong hàm Đại úy, sau đó giữ nhiều chức vụ quan trọng trong lực lượng hậu cần. Năm 1995, bà qua đời ở tuổi 70. Tên bà được đặt cho nhiều con đường và trường học ở Long An.



