Bài viết

TIỂU ĐOÀN YÊN NINH NƠI CHIẾN TRƯỜNG XA

Những cán bộ, chiến sỹ ra đi trong bốn tiểu đoàn Yên Ninh ngày ấy, giờ đã là ông, là chủ doanh nghiệp, chủ trang trại, có người ở lại làm ăn tại chiến trường xưa và không ít người nằm lại với các mảnh đất lịch sử cùng với những chiến công. Hôm nay tìm hỏi lại, nhắc lại để tự hào, để nuôi dưỡng khí phách. Các anh khi đất nước cần, đã tỏ rõ tinh thần, đã làm công việc thay mặt nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái chi viện cho chiến trường miền Nam quyết đánh và quyết thắng.

Lào Cai05/12/2025Trần Cao Đàm (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sự ra đời của bốn tiểu đoàn Yên Ninh, các tiểu đoàn mang tên tỉnh Yên Bái và tỉnh Ninh Thuận kết nghĩa là mốc lịch sử quan trọng đáng nhớ. Đó là khi hàng chục vạn lính Mỹ, lính các nước chư hầu kéo vào miền Nam nước ta, gây ra cuộc chiến tranh cục bộ. Ngày 17 tháng 7 năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước quyết chiến đấu bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc, cả nước một lòng, đồng bào chiến sĩ cả nước sục sôi, quyết tâm chiến đấu, ra sức chi viện cho miền Nam chiến đấu, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của cha ông để lại. Các đội dân quân, tự vệ được thành lập, tổ chức ra các trận địa phòng không. Nhiều cụ già tham gia các đội lão dân quân, canh phòng giữ yên làng bản cho con cháu yên tâm chiến đấu. Dân quân các xã Cát Thịnh, Kiên Thành lần lượt bắn rơi những chiếc máy bay đẩu tiên. Trước yêu cầu của tiền tuyến lớn về sức người, sức của, người Yên Bái đã hô vang khẩu hiệu: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Lương thực, thực phẩm người Yên Bái gửi ra tiền tuyến. Đợt tuyển quân nào, các địa phương của Yên Bái cũng hoàn thành vượt mức, thể hiện tình cảm của mình với đồng bào miền Nam ruột thịt, với nhân dân tỉnh Ninh Thuận kết nghĩa.

Biết tin tỉnh có chủ trương, Tỉnh đội Yên Bái thành lập tiểu đoàn Yên Ninh I, người Yên Bái sẵn lòng đưa tiễn những người con mang nặng đẻ đau, chăm bẵm nuôi dạy nên người ra đi, tỏ tình cảm sắt son, đồng cảm với tỉnh anh em kết nghĩa, với miền Nam kiên cường. Những người con ưu tú này, người Yên Bái đã huấn luyện kỹ, đã trang bị đủ để lên đường vào Nam.

Khi miền Nam đồng loạt tổng tiến công và nổi dậy vào dịp tết Mậu Thân, Yên Bái lại thành lập tiếp tiểu đoàn Yên Ninh II, ra đi trong khí thế”quân đi rung động núi Thiên”, mà cán bộ của tiểu đoàn đã bật ra trên đường hành quân thành câu thơ sống động. Tiếp đó, người Yên Bái còn thành lập thêm tiểu đoàn Yên Ninh III, rồi tiểu đoàn Yên Ninh IV, mỗi tiểu đoàn có trên bảy trăm chiến sỹ, là con em, người ruột thịt của mình, đủ các dân tộc. Anh em ra đi không cần tính tuổi tác, tham gia các tiểu đoàn Yên Ninh có thanh niên tuổi tròn mười tám, có chiến sĩ ở tuổi ba mươi, có học sinh rời ghế nhà trường, có anh Chủ nhiệm hợp tác xã, có cả anh Xã đội trưởng, anh Chủ tịch Uỷ ban hành chính xã. Ai cũng mong khám đạt sức khoẻ, đủ tiêu chuẩn để được ra đi. Những tấm gương đó là Trần Bảo Toàn, người xã Mông Sơn, huyện Yên Bình; là Nguyễn Minh Tắc, ở xã Lang Thíp; là Sừu Vãn Dỉ, ở xã Phong Dụ huyện Văn Yên... Được nhập ngũ là họ mừng vui, tự hào, háo hức lên Tân Nguyên huấn luyện. Để được vào Nam chiến đấu, anh em tập mang vác nặng, leo dốc để vượt Trường Sơn. Bị phồng vai, chân tập tễnh vẫn cười, vẫn cố tập.

Ngày hành quân lên đường thật náo nức, tiểu đoàn được ô tô đưa về Tiên Sơn, Hà Bắc, rồi thực hiện đúng nghĩa của hành quân. Bằng đôi chân vạn dặm, anh em vào tuyến lửa, hành quân suốt dọc Trường Sơn. Đi trên rừng núi lâu ngày, có chiến sĩ sốt ruột hỏi: “Đi mãi sao chưa thấy đỉnh Trường Sơn để thử sức”. Có chiến sĩ bị sốt, chiến sĩ bị đau bụng vẫn cố chịu, cố theo kịp đơn vị. Đồng chí Lương, khi ngủ, bị cành cây gẫy, rơi phải, làm bị thương tay trái, sáng ra lại vội khoác ba lô. Đồng chí nào cũng mong muốn ra tới chiến trường, không chịu nằm lại ở các trạm dọc đường. Có tình đồng đội, dù đã mang vác nặng, anh em vẫn nhận thêm bao gạo, thêm ba lô, để đồng chí mình cùng đến đích.

Ba tiểu đoàn Yên Ninh vào đến chiến trường miền Nam được bổ sung về các đơn vị ở Quảng Trị, Tây Nguyên. Riêng tiểu đoàn Yên Ninh II vào tận K9,. tới Bù Đốp, Cà Tum. Sang đất bạn Campuchia, rồi tiểu đoàn vòng lại đất mình, đến đồng Chó Ngáp, thuộc tỉnh Long An, nước mênh mông, lơ thơ ít cây chàm. Sở dĩ nơi này gọi là đồng Chó Ngáp bởi qua mùa lũ, lộ ra vùng đất mỏi chân đi không hết, chó vượt qua cũng mệt, ngáp dài vẫn khó mà qua.

Sống trên mặt nước, chiến sĩ ta mắc võng trên cành chàm, nằm trong tầm pháo của hai bốt Đức Hòa, Đức Huệ. Tính ra, lên đường từ ngày 10 tháng 5 năm 1968 ở Hán Đà, hôm nay ngày 17 tháng 10 năm 1968, tiểu đoàn Yên Ninh II đã dòng dã đi bộ năm tháng bảy ngày. Hơn năm tháng trời hành quân mang nặng vượt đèo leo dốc, lúc nắng lửa, bom rơi đạn nổ, lúc mưa rừng tầm tã. Giờ đây, những người con của Yên Bái, nơi có bếp phà Âu Lâu lịch sử, dù bị máy bay hủy diệt tỉnh lỵ, vẫn cử những người con kiên cường vào chiến đấu ở đất Long An. thuộc mặt trận phía bắc Sài Gòn.

Quen leo núi, đi trong rừng rậm, nay chiến sĩ ta bì bõm lội nước, nước sâu đến ngực, trên trời thì trực thăng “cá rô” quần đảo săn tìm, dưới nước từng đàn đỉa bám. Vừa lội, vừa ngụp, mỗi chiến sĩ cầm theo cành lá chàm che đầu, quan sát máy bay...

Kể lại những chuyện này, đến bây giờ một số cán bộ, chiến sĩ của tiểu đoàn Yên Ninh II vẫn tự khen mình: “Không ngờ, ngày ấy sức chịu đựng của mình khá đến thế, chóng làm quen được với chiến trường xa lạ”.

Anh Nguyễn Khắc Thuận, nhà ở ngã tư Nam Cường, kể khá tỉ mỉ. Ngày đó, anh ở đơn vị trinh sát của tiểu đoàn Yên Ninh II. Tiểu đoàn anh giữ phiên hiệu này trong đơn vị chủ lực của phân khu II, tỉnh Long An, mật danh là FKII, chiến đấu cho đến ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Anh nhớ vanh vách từng trận đánh một.

Vào đất Long An, còn chân ướt chân ráo, tiểu đoàn Yên Ninh II đã có trận đánh đầu tiên. Lúc ấy, địch đang tổ chức trận càn lớn. Chưa kịp làm quen địa hình địa vật, tiểu đoàn đã nổ súng chống càn, bảo vệ dân. Cuộc chiến đấu kéo dài cho đến chiều tối, quân địch lùi lại. Đơn vị về đến nơi tập kết, kiểm lại quân số, thấy thiếu chiến sĩ Phương Văn Lương, người xã Ngọc Chấn, huyện Yên Bình. Cho là anh đã hi sinh, ai cũng thương người đồng đội chịu khó, quý mến mọi người, dũng cảm.

Giữa lúc mọi người đang lo lắng, chuẩn bị cử người đi tìm thì máy bay trực thăng của địch kéo đến từng đàn. Chúng rà đi rà lại. Pháo địch bắn ác liệt vào nơi vừa diễn ta trận đánh. Trong đạn bom ấy, bỗng nổ vang từng loạt AK. Một chiếc trực thăng bốc cháy. Mừng vì Lương còn sống, rồi ai cũng lo cho anh một mình xoay xở giữa bầy giặc ác. Bầy máy bay túm lại. Chúng sà xuống mặt ruộng, định bắt sống Lương.

Lập tức, đơn vị nổ súng hỗ trợ. Bốn khẩu 12 ly 8 đồng loạt nổ súng. Máy bay hoảng hồn tháo chạy. Dưới đạn pháo địch, anh em đã gặp được Phương Văn Lương. Anh đã bị thương ở chân từ trận đánh trước. Cố chịu đau, nhưng anh không theo kịp đơn vị, nằm nghỉ giữa đồng.

Tinh thần dũng cảm chiến đấu của Phương Văn Lương trong trận đánh đã được thưởng Huân chương chiến công và danh hiệu dũng sĩ diệt cơ giới. Sau này, khỏi vết thương, về chiến đấu ở Đức Hòa, chỉ trong thời gian ngắn, anh lại được tặng Huân chương chiến công lần thứ hai và được tặng sáu bằng dũng sĩ diệt cơ giới. Nếu được thêm một Huân chương chiến công nữa, Phương Văn Lương đủ tiêu chuẩn tuyên dương anh hùng. Nhưng, lại đến một trận chống càn ác liệt nữa. Trận này, Phương Văn Lương đã anh dũng hy sinh giữa vô vàn thương tiếc của đồng đội và nhân dân địa phương Đức Hòa.

Trong những năm chiến đấu ở Long An, tiểu đoàn Yên Ninh II có rất nhiều cán bộ, chiến sĩ chiến đấu dũng cảm. Trong khuôn khổ của một bài viết, tôi giới thiệu thêm gương chiến đấu của chiến sĩ Hoàng Quốc Việt. Anh là người dân tộc Tày, quê ở xã Yên Phú, huyện Văn Yên. Ở đơn vị, anh Việt được giao làm xạ thủ B40. Theo tính toán khoa học về sức khỏe, sức chịu đựng sức ép tiếng nổ của con người, trong một trận đánh, mỗi chiến sĩ chỉ được bắn nhiều nhất là bảy quả đạn. Trong trận đánh, chống địch càn vào quận Thủ Thừa, bộ phận của Hoàng Việt chiến đấu độc lập, ở trên địa bàn mà các đơn vị bạn không thể chi viện được. Bọn địch cậy đông, có xe tăng yểm trợ, hùng hổ xông tới. Xe tăng đến, lính địch đông. Hoàng Quốc Việt liên tục bắn hết quả đạn này, đến phát B40 khác. Anh đã bắn tới quả đạn thứ 21, bắn gấp ba lần con số tính toán của các nhà khoa học. Trước mặt anh, ba xe tăng địch bốc cháy, nằm chết. Lũ giặc bị tiêu diệt đã nhiều, nhưng chúng vẫn bị thúc lên. Xe tăng địch lại đi trước dẫn đường cho bộ binh. Hoàng Quốc Việt lại lắp đạn B40, ngắm bắn. Không may, giữa lúc ấy, một viên đạn 12 ly 7 của địch bắn trúng anh. Viên đạn quái ác làm gẫy cả hai cánh tay Hoàng Quốc Việt. Đồng đội kịp lao đến, băng bó cho anh. Bị đút động mạch, máu ra nhiều, Việt nghiến răng chịu đau, động viên anh em tiếp tục chiến đấu. Hoàng Quốc Việt động viên anh em cho đến hơi thở cuối cùng.

Ngoài gương cá nhân, tiểu đoàn Yên Ninh II còn có rất nhiều tập thể chiến đấu hết sức mưu trí, dũng cảm. Đơn cử sau đây về bảy chiến sĩ trong tiểu đội trinh sát của tiểu đoàn. Đêm ấy, tiểu đoàn Yên Ninh II được giao đánh vào quận Đức Hòa. Tiểu đoàn giao cho tiểu đội trinh sát đưa đạn HI2, vượt qua sông Vàm cỏ, sang ém sẵn ngoài bãi pháo của địch ở Lương Hòa. Tiểu đội có nhiệm vụ đợi cho tiểu đoàn đánh xong, sẽ bắn đạn H12 vào trận địa pháo của địch, để tiểu đoàn rút ra an toàn.

Do sông rộng, trời tối, khó quan sát, tiểu đội bơi ra đến giữa sông thì gặp hai chiếc tàu “bo bo” của địch nằm im phục sẵn từ bao giờ. Tiểu đội lọt gọn vào giữa hai tầu địch. Phát hiện ra ta, chúng đồng loạt nổ súng. Hoàn cảnh thật nguy cấp. Các chiến sĩ trinh sát phải lặn sâu xuống nước tránh đạn, rồi lẩn vào những bè bèo tây đang bồng bềnh trên sông để thở, để ngụy trang trôi qua tầu giặc. Bọn địch trên tầu tinh quái phát hiện ra. Chúng bật đèn soi, sáng rực cả khúc sông, chúng bắn tới tấp vào các đám bèo.

Tình thế ấy, không thể giữ bí mật được nữa, tiểu đội quyết định phải chiến đấu. Anh em dùng đạn chống tăng “a-tê-tăng” lắp vào đầu súng AK mà bắn tàu địch.

Cả hai tàu địch bị bắn chìm, bảy anh em lại bơi tiếp vào bờ theo kế hoạch, nặng nề đưa đủ cả số đạn H12 qua sông Vàm cỏ. Tiểu đội đợi tiểu đoàn giải quyết xong trận đánh, bắn vào bãi pháo Lương Hòa theo kế hoạch.

Từ cuối năm 1968 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi miền Nam hoàn toàn được giải phóng, tiểu đoàn Yên Ninh II đã chiến đấu liên tục ở các huyện Đức Hòa, Đức Huệ, Bình Chánh, thị xã Tân An, ngay bắc Sài Gòn. Chiến công của tiểu đoàn không thể ghi lại hết. Còn chiến công của các tiểu đoàn Yên Ninh I, Yên Ninh III, Yên Ninh IV, rồi chiến công của những đơn vị, những chiến sĩ vào Nam chiến đấu ngoài bốn tiểu đoàn Yên Ninh... Chiến công nối dài cùng những chiến công.

Trong giới hạn của người viết, giới hạn của bài viết, điểm lại mấy nét trên, chắc bạn đọc đã hình dung phần nào khí phách của người Yên Bái ở chiến trường xa những ngày máu lửa ấy.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn