Bài viết

TIỂU ĐỘI TRƯỞNG DU KÍCH CỔ VĂN NGÀY ẤY

Mường Lai, quê hương của những làn điệu khắp, coọi, hát phong slư, khảm hải êm ái ngọt ngào, quê hương của nhà sàn, của những người dân áo chàm cần cù chất phác giàu truyền thống cách mạng, nơi ấy đội du kích Cổ Văn đã ra đời làm cho lũ giặc kinh hồn bạt vía. Tôi đến Mường Lai khi trời đã ngả sang chiều. Trước mắt tôi, những ngôi nhà sàn mái cọ bạc màu ẩn hiện trong cây lá, lặng lẽ nép mình ven núi nhìn ra đồng lúa non xanh mươn mướt. Đâu đó, mùi rơm mùa cũ thoang thoảng gợi cho tôi cảm giác gần

Lào Cai05/12/2025Nông Quang Khiêm (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
TIỂU ĐỘI TRƯỞNG DU KÍCH CỔ VĂN NGÀY ẤY

Tôi ngồi bên cụ Hoàng Triều Cống. Giọng nói ông vang ấm áp, đầu ông hơi hói, những sợi tóc đã bạc màu hết cả nhưng ông vẫn nhanh nhẹn và hoạt bát lắm. Hiền lành, chân chất trong bộ quần áo chàm Tày ai nghĩ rằng con người ấy đã tay không cướp đồn giặc, giải phóng Lục Yên năm 1945. Ông là Hoàng Triều Cống, sinh ngày mùng 2 tháng 9 năm 1927 trong một gia đình người Tày tại thôn 16 xã Mường Lai, huyện Lục Yên. Từ nhỏ ông đã có tiếng thông minh nhanh nhẹn, hát hay. Ông mê hát và hát được tất cả các làn điệu: quan làng, khảm hải, phong slư, khắp, coọi. Cách mạng đến với ông thật tự nhiên cũng từ một lần đi tham dự cuộc hát.

Mường Lai ngày ấy là hai xã Cổ Văn và Từ Hiếu, toàn là rừng già hiểm trở, chủ yếu là đồng bào Tày sinh sống. Cuộc sống đói khổ cơ cực nhưng người dân giàu lòng yêu nước, truyền thống chống giặc ngoại xâm còn lưu truyền qua nhiều thế hệ. Mường Lai được bao bọc bởi các dãy núi đá, phía Đông giáp với xã Yên Lâm, Yên Phú của huyện Hàm Yên, Tuyên Quang. Phía Tây có dãy núi Tam Đỉnh tiếp giáp với huyện Bắc Quang, Hà Giang. Vì địa hình rừng núi rộng, hiểm trở, thuận lợi cho hoạt động cách mạng bí mật. Nhận thấy đây là điểm mấu chốt để phát triển cao trào cách mạng, đoàn cán bộ Tây tiến của Tổng bộ Việt Minh bí mật đến Cổ Văn, Từ Hiếu để tuyên truyền cách mạng. Ngày mùng 5 tháng 5 năm 1945 các đồng chí: Đội Anh (Nông Văn Đích), Đội Minh (Lê Văn Hựu), Đội Hà (Bế Hoắc), Đội Lý (La Văn Tần) cải trang làm lái buôn qua Tuyên Quang, cắt rừng tới Cổ Văn bắt liên lạc với giáo học Sầm Văn Châu, một cán bộ nằm vùng. Đội công tác đã vào nhà Phó tổng Lịch Hạ Nghiêm Văn Tuân để giác ngộ. Do được giáo học Sầm Văn Châu giác ngộ từ trước nên Phó tổng Lịch Hạ Nghiêm Văn Tuân đã đón cả đoàn về nhà mình ở để tránh tai mắt của giặc. Sáng ngày 6 tháng 5 năm 1945, Sầm Văn Châu đưa đội công tác bí mật tiếp xúc với Chánh tổng Hoàng Văn Sáu (Chánh Phấn). Sau khi được tuyên truyền giác ngộ, Chánh tổng Hoàng Văn Sáu đã sức giấy cho các lý trưởng ở các xã, kêu gọi không làm việc cho Tây, ủng hộ cách mạng. Hoàng Triều Cống trong một lần đi tham dự cuộc hát, ngẫu nhiên được tiếp xúc với đội công tác của Việt minh. Gặp được lý tưởng, ngay tối hôm đó Hoàng Triều Cống đã tập hợp, vận động thanh niên trong làng cùng đi theo cách mạng, đồng lòng phá kho thóc Nhật chia cho dân, không đi phu đi lính cho giặc Pháp, giặc Nhật, không trồng đay, trồng thầu dầu cho Nhật và Pháp. Đêm mùng 9 tháng 5 năm 1945 trên đồi sim Cổ Văn, sau nhà ông Nghiêm Văn Tuân, dưới sự chủ toạ của Đội Anh, các ông Phó tổng Thả, lý Thương, Hoàng Triều Cống, Nông Văn Liên, Hoàng Văn Bình, Phan Văn Học đã họp phiên đầu tiên. Đội du kích Cổ Văn được thành lập, gồm 7 người. Đêm 12 tháng 5 năm 1945 ông Nghiêm Văn Tuân được giao nhiệm vụ đứng lên kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh chống Pháp, kêu gọi thanh niên tham gia lực lượng vũ trang. Ai có súng, có dao thì cho mượn hoặc ủng hộ cho đội du kích. Khí thế cách mạng dâng cao, đội du kich tăng lên 17 rồi 24 người, được biên chế thành 2 tiểu đội. Hoàng Triều Cống làm Tiểu đội trưởng tiểu đội 1; Vi Văn Thiết làm Tiểu đội trưởng Tiểu đội 2. Đội du kích vừa luyện tập xây dựng lực lượng vừa vận động quần chúng nhân dân ủng hộ Việt Minh, lập dân phòng, lập các điếm canh kiểm soát người ra vào căn cứ. Đội du kích còn tổ chức mai phục đánh tan các đội quân của Quản Ván, Quản Lộc và Vàng Xập. Thanh thế đội du kích Cổ Văn lan rộng khắp vùng. Ngày 4 tháng 7 năm 1945, sau khi nắm tình hình địch, đội du kích được lệnh lên đường giải phóng châu Lục Yên. Ngày 5 tháng 7 năm 1945 đội đã xuất phát từ Cổ Văn xuống Làng Giàng, xã Xuân Long rồi ngược theo sông Chảy tiến lên Lục Yên. Khi đội du kích tiến đến gần Tân Lập thì trời tối, đội tìm chỗ nghỉ ngơi bên bờ sông thì phát hiện quan Châu Lục Yên Trần Lê Nghiêm đang cùng vợ con đi mảng xuôi về Yên Bái để chạy trốn trước khí thế cách mạng hừng hực dâng cao của nhân dân trên cả nứơc. Lúc đó trời đã tối, quan Châu Trần Lê Nghiêm cũng rẽ mảng vào ngủ trên một lều canh nương ngô của người dân bỏ hoang gần đó. Ngay lập tức, Hoàng Triều Cống cùng các chiến sỹ Cổ Văn áp sát lều nương, bắt sống quan châu Lục Yên, cảm hoá và buộc hắn viết thư yêu cầu binh sỹ Lục Yên đầu hàng. Ngày 8 tháng 7 năm 1945 Hoàng Triều Cống cùng 26 chiến sỹ du kích bao vây đồn Lục Yên, cả đội du kích có 27 khẩu súng kíp và súng tự tạo nhưng thực chất chỉ có 11 khẩu là bắn được, những khẩu còn lại thì bắn phát được phát không. Các chiến sỹ du kích Cổ Văn áp sát, khép chặt vòng vây, nín thở chờ đợi bên ngoài. Tiểu đội trưởng Hoàng Triều Cống một mình tay không tiến thẳng về phía những nòng súng địch, cầm thư của Trần Lê Nghiêm và tối hậu thư của Việt Minh vào dụ hàng địch trong đồn. Một phút… hai phút… ba phút… những giây phút hồi hộp, căng thẳng nặng nề trôi. Hoàng Triều Cống mất hút trong đồn giặc. Vẫn im lặng. Đội du kích đang sẵn sàng xông lên thì trong đồn bỗng vang lên ba tiếng súng. Trước khí thế cách mạng của nhân dân, lại hoang mang vì quan châu đã bỏ đồn về xuôi, nay nhận được thư của chính quan châu và thư dụ hàng của Việt Minh do Hoàng Triều Cống cầm vào, quan quản đồn Nguyễn Văn Thi đã lệnh cho binh lính hạ vũ khí, trao đồn cho quân cách mạng. Ba tiếng súng là ám hiệu xin hàng của địch. Đội du kích nhất tề xông lên tước vũ khí của địch, châu Lục Yên được giải phóng. Giải phóng xong châu Lỵ Lục Yên, đội du kích Cổ Văn tiếp tục tiến đến giải phóng cho các xã trong vùng thoát khỏi ách nô lệ chiếm đóng của Quản Ván, Quản Lộc, đội quân tay chân của Nhật chiếm đóng ở các xã của huyện Lục Yên. Sau khi tham gia thành lập Uỷ ban kháng chiến huyện và xã, đội du kích Cổ Văn lại trở về căn cứ để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới. Đồng bào Cổ Văn, Từ Hiếu, Lục Yên đã tổ chức một cuộc mít tinh lớn đón đoàn quân chiến thắng trở về. Mọi người hăng hái gia nhập đoàn quân du kích, quân số tăng lên 200 người. Hơn ba tháng huấn luyện hăng say, đội du kích Cổ Văn chia làm ba bộ phận. Một bộ phận ngược sông Chảy sang phối hợp với bộ đội chủ lực giải phóng Phố Ràng, Bảo Yên, thị xã Nghĩa Lộ, Văn Bàn, Than Uyên. Một bộ phận ở lại phát triển khu căn cứ, mở rộng địa bàn hoạt động xuống vùng Chợ Ngọc, tiến xuống Yên Bái. Hoàng Triều Cống đứng đầu bộ phận tiến đánh bọn Phỉ, Quản Ván ở Mường Lèng, Tân Yên, Bắc Quang. Lòng dũng cảm cộng với cách đánh thông minh, mưu trí, Hoàng Triều Cống cùng đồng đội đã lập được nhiều chiến công lớn. Trong một trận đánh Phỉ ở Hà Giang, do tương quan lực lượng chênh lệch quá lớn, Hoàng Triều Cống đã bị bắt vào tù. Khi Hà Giang được giải phóng, thoát khỏi tù ngục, Hoàng Triều Cống được cử đi huấn luyện và học tập tại Tuyên Quang, sau đó thành cán bộ Việt Minh về xây dựng phong trào tại Lục Yên.

Đất nước đã chuyển sang một trang mới, giữa bộn bề công việc, thời gian cứ dần trôi, đội du kích của ông Hoàng Triều Cống không còn ai nữa. Chiến sỹ trẻ áo chàm ngày nào tay không cướp đồn giặc, tung hoành tiễu phỉ, đánh Đông dẹp Bắc nay đã bước sang tuổi 84, ông lại là người nông dân tay dao tay cuốc trồng cây nuôi cá, sống bình dị trong tình cảm yêu quý của làng xóm, quê hương. Câu chuyện giữa tôi và ông thân tình trên ngôi nhà sàn Tày, cụ Hoàng Triều Cống không kể về những chiến công mà kể nhiều về niềm vui mỗi lần tham dự các cuộc hát khắp, hát coọi, hát quan làng, rồi ông kể về kỷ niệm những lần đi dự trại sáng tác cùng Hoàng Hạc, Anh Thơ, Khương Hữu Dụng… ông giơ bàn tay gân guốc lên và cười: “Bây giờ chỉ ước có một cái đài thôi, bé bằng bàn tay này này nhưng ghi âm được, để mình hát rồi ghi âm vào, khi nào già quá không hát được nữa thì mở ra nghe”. Hoàng Triều Cống vẫn mê hát, ông hát tự nhiên, tiếng hát mê say vẫn vang vọng từ ngôi nhà sàn bé nhỏ. Thấy bên cạnh ông là một chồng sách bìa đã ố vàng và nhăn nhúm tôi hỏi sách gì, ông bảo: “Đây là tuyển tập Hồ Chí Minh, còn đây là sách khắp, coọi, phong slư Tày cổ đấy”. Hoá ra cụ Hoàng Triều Cống không chỉ mê hát mà còn sưu tầm văn hoá dân gian Tày, lưu truyền cho các thế hệ con cháu. Những bài viết của ông đăng nhiều ở các báo Văn nghệ, báo Quân khu hai, báo Yên Bái. Không chỉ vậy, ông còn có nghề bốc thuốc Nam nổi tiếng, rất nhiều người đã được ông chữa khỏi bệnh bằng các cây cỏ ông trồng trong vườn nhà. Các con ông cũng đang học bốc thuốc Nam, mê hát và có nhiều thành tích trong công tác tại địa phương. Bên đồi sim Cổ Văn xưa, nơi chàng thanh niên Tày Hoàng Triều Cống cùng những chiến sỹ áo chàm không sợ hy sinh, không quản ngại khó khăn gian khổ chiến đấu giải phóng quê hương nay đã được công nhận là Di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh theo Quyết định số 701/2004/QD- UB ngày 28 tháng 12 năm 2004. Tạm biệt Mường Lai, tạm biệt cụ Hoàng Triều Cống. Trong tôi, hình ảnh người chiến sỹ áo chàm bình dị ấy in sâu trong lòng như ông đã sống trong lòng người dân trên mảnh đất này.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn