Cựu chiến binh

Tiểu học Đông Thành

NHỮNG CHÀNG ĐẶC CÔNG... CÕNG NHAU TỚI CHIẾN TRƯỜNG

Ninh Bình16/04/2026Phạm Thị Nga (Tiểu học Đông Thành)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Tiểu học Đông Thành

Ở Gia Lai, Chu Quang Tùy là một huyền thoại. Nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn đặc công của Tỉnh đội Gia Lai là một trong 4 người đã tham gia cắm cờ giải phóng trên nóc tòa hành chính thị xã Pleiku (cũ) đúng ngày 17/3/1975.

Thế nhưng, ít người biết, ông còn là người Đại đội trưởng Đại đội 70 – đơn vị từng khiến chính quyền ngụy tại Gia Lai “mất ăn, mất ngủ” với những trận đánh phá mục tiêu lớn xuất quỷ nhập thần. Nhưng, người lính chiến, khi trở về đời thường, bình dị và không thích nói nhiều về mình. Bởi vậy, phải thuyết phục rất lâu, ông mới đồng ý gặp chúng tôi trong một buổi chiều đã muộn.

Sinh ra và lớn lên ở miền bắc, từng trải qua nhiều mặt trận, đầu năm 1970, ông hành quân qua đường Đông Trường Sơn để tới Tây Nguyên. Thời điểm này, ông vừa hoàn thành khóa huấn luyện đặc công kéo dài 9 tháng tại Sơn Tây.

Ông bảo, đường hành quân ngày ấy vô cùng thiếu thốn và vất vả. Cả đại đội 100 người đi nhiều khi không còn gì để ăn, phải vào rừng mót củ mỳ còn sót lại trên những khoảnh nương đã quá vụ bỏ hoang. Luộc lên, thứ củ còi cọc, dài ngoằng vẫn dai nhách, hơi nhầm nhậm đắng.

Đi được chừng 1 tháng thì ông Tùy ngã bệnh vì sốt rét rừng. Đồng đội đành phải gửi ông lại ở trạm giao liên rồi theo đường mòn tiến tiếp. Sau 3 ngày, dù người còn xanh rớt, chân lẩy bẩy, chàng đặc công trẻ vẫn cố gượng dậy, chặt cây rừng làm gậy chống rồi… xin giao liên dẫn đường theo dấu Đại đội.

Ròng rã 2 tháng như thế, sau cùng, ông cũng gặp lại được đồng đội trên cao nguyên. Ông bảo: “Anh em mừng lắm, nhưng cũng bất ngờ vì không nghĩ tôi có thể bắt kịp đoàn theo cách… kỳ lạ đến thế”.

Vào Tây Nguyên muộn hơn 1 năm so với Đại đội trưởng Chu Quang Tùy, hành trình của chàng đặc công Lê Mạnh Hùng cũng không kém phần gian khổ. Sinh năm 1952 tại Thanh Hóa, ngay khi học hết lớp 10 (chương trình cũ), ông Hùng đã xung phong nhập ngũ với ước muốn… tìm nơi ba đang đóng quân.

“Ba tôi khi ấy đang chiến đấu trong miền nam. Tôi chỉ muốn vào bộ đội rồi vào cùng ba. Nên dù mẹ và các anh em cản, tôi vẫn quyết chí lên đường”.

Cuối tháng 4 năm 1970, ông Hùng có quân tịch. Nhưng ba ông đã hy sinh tại Tiền Giang vài ngày sau đó. Khi ấy, người lính trẻ măng không hề biết thông tin này. Ước mong cùng cha đứng chung một chiến hào vẫn như một ngọn lửa, leo lét cháy, leo lét dẫn đường cho ông hướng về miền nam.

Cũng giống ông Tùy, Lê Mạnh Hùng trải qua gần 1 năm huấn luyện tại Sơn Tây trước khi được tuyển vào lực lượng đặc công và nhận nhiệm vụ trên cao nguyên bazan đất đỏ. Cuối năm 1970, ông hành quân theo hướng Tây Trường Sơn để tập kết.

“Chúng tôi mất đúng 314 ngày hành quân. Trên đường đi qua đất bạn Lào, do thiếu thốn, anh em phải mang nhiều tư trang đổi cơm nếp, thịt khô với người dân địa phương ăn cho có sức. Những lúc ốm đau, đồng đội chặt tre, gánh nhau tới chiến trường”, ông Hùng hồi tưởng.

Dừng lại một chút, ông Hùng trầm ngâm: Những ngày đầu, cuộc sống vô cùng khó khăn. Bộ đội địa phương vừa chiến đấu, vừa phải tự tăng gia sản xuất. Người trồng sắn, kẻ đi mót mỳ trên những nương rẫy hoang. Thiếu đến độ “đại đội 100 người có khi chỉ còn 2 bồ củ sắn”. Riêng muối, trở thành niềm mơ ước xa xỉ trên cao nguyên. Bộ đội chỉ còn cách đốt cỏ gianh, lấy than tro trộn vào thức ăn cho mặn vị.

“Thế nhưng, không ai kêu than hay nản chí. Anh em chỉ càng thêm quyết tâm chiến đấu và mong ngày giải phóng”, cựu Đại đội trưởng Đại đội 10 Chu Quang Tùy nhớ lại.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn