Tiểu học Đông Thành (1)
SỐNG - CHẾT VÀ NHỮNG TRẬN ĐÁNH NỞ HOA TRONG LÒNG ĐỊCH
ột năm sau khi vào Gia Lai, ông Hùng xin xuống đơn vị chiến đấu với vai trò lính trinh sát thuộc Tiểu đoàn đặc công 408.“Khác với các lực lượng khác, đặc công chúng tôi chỉ đánh địch ngủ chứ không tấn công địch thức. Thường thường, sau khi đã lên phương án, chuẩn bị kỹ càng, anh em sẽ lên đường. Phải căn những tối trăng muộn, mù trời mà đi. Trăng sáng rõ thì tất cả ở nhà… phát rẫy, trồng nương”, ông Hùng giải thích.
Tiểu đoàn đặc công 408 Gia Lai chụp ảnh lưu niệm sau ngày Giải phóng Pleiku. (Ảnh: NVCC)Cựu chiến binh Hoàng Đình Thẻ, cựu chiến sĩ Tiểu đoàn đặc công 408 cho biết thêm: Mục tiêu đánh chính của Tiểu đoàn khi ấy là sân bay, kho xăng, kho lương lớn của chính quyền nguỵ. Đánh bất thần để địch bị tiêu hao. Đánh cho chúng “thất kinh” không còn tâm trí đánh chiếm đất khu giải phóng; đồng thời tạo thế nghi binh, thu hút địch.
Mít tinh chào mừng miền Nam và tỉnh Gia Lai hoàn toàn giải phóng, ngày 15/5/1975. Ảnh: Tư liệu.Tiểu đoàn đặc công 408 tỉnh Gia Lai được thành lập năm 1967 theo quyết định của Bộ Tư lệnh B3 và Bộ Tư lệnh Quân khu 5. Với biên chế gồm Tiểu đoàn Bộ và 4 đại đội: K60, K70, K80, K90, Tiểu đoàn có nhiệm vụ luồn sâu, đánh vào hậu cứ, sở chỉ huy, kho tàng, phương tiện chiến tranh của Mỹ- ngụy trên địa bàn thị xã Pleiku và vùng ven, tiêu diệt và tiêu hao sinh lực địch, góp phần đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích vùng khu 9, khu 3 và khu 6.
Cựu chiến binh Hoàng Đình Thẻ, nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn đặc công 408 Gia Lai trong căn nhà nhỏ của mình tại thành phố Pleiku.
Huy hiệu và những kỷ vật những ngày hào hùng cùng Tiểu đoàn 408 được ông cất giữ rất kỹ...
Nói thêm về bố phòng cứ điểm giai đoạn 1974-1975, ông thông tin: Hầu hết các cứ điểm quan trọng như sân bay Cù Hanh (sân bay Pleiku hiện tại), Tổng kho xăng dầu… đều được địch bố trí nhiều lớp rào. Ít thì 4 lớp, nhiều nhất là 8 lớp. Thông thường, lớp đầu tiên là rào thép gai dạng hình lò xo. Tiếp đó là rào đơn, rồi đến ‘cũi lợn’ – dạng rào rất thấp phải bò sát mặt đất mới có cơ hội chui qua. Dưới mặt đất, địch cũng cài đầy mìn để tránh bộ đội ta xâm nhập.Ngồi thừ ra một lát, ông Thẻ tiếp tục: Để có thể công phá các mục tiêu, lính đặc công cần quán triệt 2 nguyên tắc cơ bản: Trinh sát kỹ, chỉ đánh khi chắc chắn, mắt thấy, tai nghe, tay sờ; và… sẵn sàng chấp nhận mất xác nếu hy sinh trong cứ điểm địch.“Sở dĩ có nguyên tắc sau bởi trong những lần đánh điểm, lính trinh sát chỉ đi theo tốp khoảng 10 người. Trong số này, cứ 2 người thành một tổ mũi nhọn có nhiệm vụ đặt bộc phá tiêu diệt mục tiêu. Nhóm còn lại giữ vai trò mở đường, cảnh giới và y tế, hậu cần. Nếu hy sinh bên trong, khả năng lấy được thi thể ra gần như không có. Bởi vậy, tất cả chúng tôi đều quán triệt và xác định rất rõ về mặt tinh thần”, ông nói.
Chiến sĩ đặc công Tiểu đoàn 408 bàn bạc chiến thuật. Trong ảnh, ông Chu Quang Tùy thời trẻ là người ngoài cùng, bên phải. (Ảnh: NVCC)Sau hơn 50 năm, những người lính chiến thi thoảng vẫn nằm mơ thấy cảnh đồng đội hy sinh khi vượt rào. Đó là vào đêm 12/10/1974, tổ ông Hùng gồm 7 người nhận nhiệm vụ đánh mục tiêu trong lòng thị xã.“Khi ấy, đồng chí Tăng, quê ở Nam Hà, là Đại đội phó bỗng dưng bảo với tôi: Hôm nay cậu không vào nhé. Ở ngoài cảnh giới. Tôi sẽ vào. Đêm mai là lượt cậu. Nói rồi, Tăng lúi cúi chui đi. Nhưng chỉ tới lớp rào thứ 4 thì mìn nổ. Chẳng ai trong số chúng tôi khi ấy dám tính đến ngày về…”, ông Hùng nói xong rồi lặng phắc.Để hạn chế thương vong, trước mỗi trận đánh, lính đặc công sẽ phải tiến hành trinh sát rất kỹ. 2 người làm nhiệm vụ cắt rào, ‘mở cửa’ mục tiêu nhất thiết phải là Đảng viên. Sau khi phá rào, anh em sẽ tiếp tục dò và đánh dấu vị trí chôn mìn. Xong xuôi, 1 “đội đi lùi” sẽ có trách nhiệm xóa toàn bộ dấu vết xâm nhập. Toàn bộ thông tin về vị trí, bố phòng lại được báo cáo với cấp trên để lên phương án chi tiết cả về tác chiến, nhân sự lẫn… đường rút lui an toàn.
Trung đoàn 95 và Sư đoàn 3, Quân khu V tấn công địch tại đèo An Khê, cắt đường 19 nghi binh đánh Pleiku và Kon Tum tháng 3/1975. (Ảnh: Bảo tàng Chiến thắng Tây Nguyên)Đại đội trưởng K70 Chu Quang Tùy vẫn chưa thể quên trận đánh phá kho xăng địch gần sân bay Aria (nay thuộc tổ 5, phường Thắng Lợi, thành phố Pleiku) tháng 2/1974.“Gần Tết năm đó, chúng tôi nhận nhiệm vụ trên giao là bằng mọi cách phải phá được tổng kho xăng dầu này. Sau khi trinh sát địa bàn, lên kế hoạch, Chỉ huy Mặt trận B3 đồng ý với cách đánh của đơn vị”, ông Tùy kể.Do đây là kho xăng lớn nên địch bố trí canh phòng rất nghiêm ngặt, có hỏa lực mạnh bảo vệ. Riêng hệ thống rào lên tới 7 lớp. Bên trong có 3 kho xăng hình tam giác. Sau 3 đêm thực địa, gần nửa đêm ngày 10/2, ông Tùy dẫn theo 12 người xuất phát.Đêm đó, trăng mịt mù. Núi rừng cũng mênh mông. Đoàn người lặng lẽ tiến theo hướng đông. Để ở phía ngoài 7 đồng chí làm nhiệm vụ cứu thương, cảnh giới, ông Tùy cùng 5 đồng đội chia làm 3 mũi tiến sâu hơn.“Mỗi đội mang theo 6 kg bộc phá. 4 kg dùng để gài vào bồn. 2 kg còn lại đề phòng tình huống bị lộ thì anh em sẵn sàng giật nổ luôn, chấp nhận hy sinh. Mũi trưởng thì có thêm 1 khẩu AK. Bên ngoài có thêm 2 khẩu súng cảnh giới, hỗ trợ hỏa lực khi cần thiết”, ông Tùy kể.6 chiến sĩ lặng lẽ trườn vào sân tổng kho. Mũi xa nhất được ưu tiên đi đặt mìn đầu tiên, sau đó tới các điểm gần hơn. Kíp nổ hẹn giờ đếm ngược cũng đã sẵn sàng. Cả trung đội dần rút ra ngoài, nín thở chờ đợi giờ điểm hỏa.
Quân Giải phóng tiến công cứ điểm địch trong chiến dịch Tây Nguyên. (Ảnh tư liệu)Đúng 12 giờ đêm, một chuỗi những tiếng nổ lớn phát ra. Cả bầu trời thị xã rực sáng. Lửa và khói đen bốc lên cuồn cuộn. Tổng kho xăng bị phá hủy thành công trong niềm hân hoan của ông Tùy và đồng đội.“Mãi sau này, tôi mới biết được trận đánh đêm đó đã khiến 1 trung đội địch thương vong, hơn 20.000 lít xăng bị cháy”, ông Tùy hào hứng nói.
Các chiến sĩ đoàn Pleime (Gia Lai) thảo luận phương án đánh địch. Ảnh: Phú Tuấn - TTXVN
Bộ đội Gia Lai hành quân trên Đường 19 (1975). Ảnh: Xuân Quyết - TTXVN
NHỮNG NGƯỜI CẮM CỜ TRÊN NÓC TÒA HÀNH CHÍNH PLEIKUNhư một sự sắp đặt của lịch sử, ngày Pleiku được giải phóng, 2 người lính đặc công của tiểu đoàn 408 anh hùng là Chu Quang Tùy, Lê Mạnh Hùng đã cùng 2 đồng đội khác cắm lá cờ giải phóng trên nóc tòa hành chính Pleiku.Ngày 11/3/1975, sau thất bại nặng nề ở Đắk Lắk, toàn bộ vùng Cao nguyên Trung phần của ngụy quyền rung chuyển. Dù địch tìm mọi cách để phản kích và tái chiếm lại Buôn Ma Thuột, nhưng quân giải phóng ta đã đập tan mưu đồ trên, khiến chúng tan rã tại nhiều cứ điểm quan trọng.Lịch sử tỉnh Gia Lai sau này ghi lại: Tổ chức tái chiếm Buôn Ma Thuột bất thành, đường 19 và đường 21 bị Quân giải phóng chia cắt, Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu quyết định rút quân khỏi Kon Tum và Pleiku về vùng duyên hải miền trung qua đường số 7.Rạng sáng 15/3/1975, quân đội ngụy quyền bắt đầu cuộc rút quân. Dự kiến tình huống địch rút lui chiến lược khỏi Tây Nguyên, Quân ủy Trung ương chỉ thị các đơn vị chuẩn bị phương án đánh địch rút chạy.Tỉnh ủy Gia Lai cũng chỉ đạo lực lượng vũ trang tại chỗ chớp thời cơ, phối hợp với bộ đội tiêu diệt địch, giải phóng quê hương.
Quân đội ngụy quyền rút chạy khỏi Pleiku.Trong thời khắc lịch sử ấy, Đại đội trưởng Đại đội 10 Chu Quang Tùy cũng dần cảm nhận được sự rung chuyển dữ dội của thời cuộc. Ông kể lại: Đêm ngày 15/3/1975, ông chỉ huy Đại đội đánh Trung đoàn Thiết giáp của địch thì nhận được tin địch đang rút chạy khỏi Pleiku.“Tôi lập tức giao nhiệm vụ cho một tiểu đội cơ động về khu trú quân của tiểu đoàn ở huyện Đăk Đoa báo cáo chỉ huy. Đồng thời, tôi dẫn một tổ tiến vào thị xã ngay trong đêm để nắm thêm tình hình”. Cùng đi với ông là 3 chiến sĩ đặc công bao gồm các đồng chí Lê Mạnh Hùng, Triệu La Phương và Trịnh Thế Đoàn.Ông Lê Mạnh Hùng nhớ lại: Khi nhận nhiệm vụ “đặc biệt”, Đại đội trưởng Chu Quang Tùy yêu cầu cần khẩn trương “thâm nhập tòa hành chính ngụy”. Trước khi đi, cả tổ được giao một lá cờ Mặt trận giải phóng.
50 năm trôi qua, nhưng ông Hùng vẫn nhớ rõ khoảnh khắc cùng đồng đội vào cắm cờ trên nóc tòa hành chính Pleiku.“Khoảng 2 giờ chiều 16/3/1975, 4 chúng tôi đã tới tòa hành chính Pleiku. Lúc này địch đã rút hết. Khắp sân là quần áo, giấy tờ rải rác. Trên cột cờ còn một lá cờ ngụy đã bị cắt 2/3 dây treo. Tôi lập tức giao nhiệm vụ cho đồng chí Lê Mạnh Hùng, quyền mũi trưởng mũi 3 và Tiểu đội trưởng Trịnh Thế Đoàn cảnh giới để đồng chí Triệu La Phương trực tiếp cắm cờ. Sau khi giật lá cờ ba que của ngụy xuống, đồng chí Phương đã xé toang nó ra từng mảnh và thay vào đó là lá cờ giải phóng. Lúc đó, chúng tôi vui sướng không sao tả được. Chúng tôi nằm mơ cũng không nghĩ ta có thể giải phóng Pleiku nhanh và thuận lợi như vậy”, ông Tùy nhớ lại.
Trung đoàn 48, Sư đoàn 320 làm chủ Ty cảnh sát Ngụy tháng 3/1975. (Ảnh: Bảo tàng Chiến thắng Tây Nguyên)



