Bài viết

Tiểu Quốc Thuộc Miền Bắc Vương Quốc Cổ Chiêm Thành / Champa Khoảng Thế KỶ 11-15

Gia Lai20/05/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vùng cực bắc Chiêm Thành / Champa bao gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế hiện nay, nằm giữa Đèo Ngang và đèo Hải Vân. Đây là vùng đất thường xảy ra giao tranh, xung đột giữa nhà Hán và Lâm Ấp trong thời kỳ Bắc thuộc từ thế kỷ thứ 2 đến thứ 9; và sau này, giữa các triều đại Việt Nam và Chiêm Thành/ Champa từ thế kỷ 10-14. Ranh giới cực bắc của Chiêm Thành/ Champa là Đèo Ngang thuộc tỉnh Quảng Bình, khoảng vĩ tuyến 18.

Vào thời Tiền Lê, cuộc xung đột đầu tiên giữa Đại Cồ Việt và Chiêm Thành/ Champa đã xảy ra vào năm 982 khi Lê Hoàn đem quân tấn công vào châu Amaravati ở Quảng Nam hiện nay.

Đến triều Lý, năm 1044, Lý Phật Mã tấn công Chiêm Thành, đánh phá thành Phật Thệ, đã có nhiều ý kiến cho rằng thành Phật Thệ tức là Vijaya hay là thành Chà Bàn ở Bình Định ngày nay (Hoàng Xuân Hãn 1966: 62-66; Đào Duy Anh 1964: 174- 76).

Sau đó là cuộc tấn công của Lý Thường Kiệt năm 1069 vào thành Chà Bàn, bắt được vua Chiêm là Chế Củ; và đây là lần đầu tiên vùng đất miền cực bắc Champa được đề cập đến trong Việt sử với các tên gọi là Địa Lý, Ma Linh và Bố Chánh. Vùng đất này được sử sách Đại Việt nhắc đến như là sự hiến dâng của Chế Củ cho nhà Lý để đổi lấy tự do. Đó là giai đoạn miền bắc Chiêm Thành/ Champa rơi vào những cuộc tranh chấp triền miên trong nhiều thập niên (Nguyễn Xuân Hoa 2002: 36-37).

Cho tới khoảng năm 1078, một văn bia của Harivarman, tìm thấy tại Mỹ Sơn, đề cập đến sự ổn định và xây dựng lại vương quốc Chiêm Thành / Champa của vị vua này, như sau: “Kẻ thù đã vào vương quốc Champa, tự xưng là những kẻ cầm quyền; đã cướp đi tài sản của hoàng gia và của cải của chư thần; đã phá hủy đền thờ, tu viện, nơi an cư, làng mạc và các tự viện khác cùng với ngựa, voi, trâu bò và mùa màng; đã hủy diệt mọi thứ trong các tỉnh thành của vương quốc Champa; đã cướp đoạt những ngôi đền thờ thần Srisanabhadresvara và tất cả những phẩm vật mà các vị vua trước kia đã phụng hiến cho thần Srisanabhadresvara; đã vơ vét tất cả của cải của thần và cướp đi những nhân sự tùy thuộc ngôi đền, các vũ nữ, nhạc công… những người phục dịch cùng với tài sản trù phú của Srisanabhadresvara; ngôi đền bị cướp sạch và bỏ phế… Rồi đức vua Vijaya Harivarmadeva yan Devatamurti lên ngôi. Ngài đã tiêu diệt hết quân thù, phục hưng lại Nagara Champa, và trùng tu ngôi đền của Srisanabhadresvara… Vương quốc Champa lại trở nên hưng thịnh như xưa…” (Majumdar 1989: III, 160).

Những thông tin trên về triều đại của Harivarman phù hợp với những biến cố được ghi chép trong thư tịch cổ của Việt Nam về Chiêm Thành/ Champa vào giai đoạn này.

Các địa danh của miền cực bắc Chiêm Thành/ Champa nêu trên như Địa Lý, Ma Linh và Bố Chánh xuất hiện trong thời Lý, đã được nhiều sử liệu và sử gia xác định đó là vùng đất ở phía nam Đèo Ngang thuộc tỉnh Quảng Bình cho đến phía bắc tỉnh Quảng Trị ngày nay, như sau:

1. Địa Lý, đời Lý đổi ra Lâm Bình, đời Trần đổi ra Tân Bình, đời Lê Trung hưng đổi ra Tiên Bình, thuộc tỉnh Quảng Bình, gồm các huyện Lệ Thủy, Phong Phú, Phong Lộc, nay thuộc huyện Lệ Thủy và Quảng Ninh;

2. Ma Linh, đời Lý đổi ra Minh Linh, đời Minh đổi ra Nam Linh, đời Lê lập lại Minh Linh, thuộc tỉnh Quảng Trị, gồm hai huyện Minh Linh và Gio Linh, nay là huyện Vĩnh Linh và Gio Linh;

3. Bố Chánh, nhà Minh đổi ra Trấn Bình, nhà Lê đổi lại Bố Chánh, thuộc tỉnh Quảng Bình, gồm các huyện Bình Chánh và Tuyên Chánh, nay thuộc các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch và Tuyên Hóa (Hoàng Xuân Hãn 1966: 80-81; Đào Duy Anh 1964: 177).

Đời nhà Trần, khoảng năm 1306, theo Việt sử, vua Chiêm là Chế Mân đã đổi hai châu Ô, Lý hay Ô, Rí để cầu hôn với Huyền Trân Công Chúa (?!), đó là vùng đất được xác định từ phía nam Quảng Trị cho đến phía bắc đèo Hải Vân. Nhà Trần đã gọi khu vực từ cửa Việt vào đến cửa Tư Dung/Tư Hiền là châu Ô và châu Lý; vào năm 1307 thì đổi thành châu Thuận và châu Hóa (Đào Duy Anh 1964: 177).

Về tư liệu Champa, để tìm hiểu các địa danh/danh hiệu của vùng đất này, có một minh văn quan trọng được tìm thấy tại nhóm tháp D của thánh địa Mỹ Sơn, có niên đại khoảng năm 1192, đã ghi chép các địa danh từ Bình Định và Quảng Nam ra đến Quảng Bình bằng tiếng Chăm, như sau: “Jaya Indravarmadeva đã trốn thoát từ người Campuchia và chạy tới Amaravati. Ông đã nổi dậy và khởi binh trong nhiều huyện thành khác nhau (anekapramana) tại Amaravati, Ulik, Vvyar, Jriy và Traik. Ông đánh chiếm Vijaya. Hoàng tử [Vidyanandana] dẫn đại binh tham chiến, đánh bại [Jaya Indravarmadeva], và buộc ông phải chạy về lại Traik; [Hoàng tử] đã truy nã và giết ông tại Traik. Vì vậy, từ đó Hoàng tử không còn người đối nghịch”. (Majumdar 1985: III, 204; Southworth 2000: 237-38).

Những địa danh như Vijaya, Amaravati, Ulik, Vvyar, Jriy và Traik đã xuất hiện trong văn bia Champa trên đây, mà ta có thể đối sánh chúng với các địa danh đã xuất hiện trong các thư tịch cổ của Việt Nam và Trung Hoa như sau (tính từ Nam ra Bắc).

1. Vijaya, đã xuất hiện trong một bia ký của Jaya Harivarmadeva tìm thấy tại Po Nagar Nha Trang khoảng năm 1160 và thường được đề cập đến trong thư tịch cổ Việt Nam với danh hiệu là Trà Bàn/Chà Bàn hay Đồ Bàn hoặc Phật Thệ (Hoàng Xuân Hãn 1966: 62-66; Đào Duy Anh 1964: 174-76) là địa vực nằm trong tỉnh Bình Định ngày nay. Đương thời, tiểu quốc này được thư tịch Trung Hoa gọi là Tân Châu để phân biệt với Cựu Châu hay Amaravati ở vùng Quảng Nam ngày nay(1). Tiểu quốc Vijaya đã phát triển liên tục từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 15, được minh chứng bởi các di tích kiến trúc to lớn hiện vẫn tồn tại như Tháp Bạc (Tk 11), Bình Lâm (Tk 11), Dương Long (Tk 12-13), Hưng Thạnh (Tk 12-13), Cánh Tiên (Tk 13-14), Thốc Lốc (Tk 14-15), Thủ Thiện (Tk 14-15), tọa lạc dọc theo sông Côn; còn đầm Thị Nại [Sri Boney] chính là cảng-thị của tiểu vương quốc này.

2. Amaravati, xuất hiện trong văn bia của Java Harivarmadeva tại Mỹ Sơn khoảng năm 1157 và tại Po Nagar Nha Trang năm 1160 (Southworth 2000: 237-38), là khu vực hạ lưu sông Thu Bồn bao gồm Mỹ Sơn là thánh địa, Trà Kiệu là hoàng thành và Đại Chiêm Hải Khẩu là cảng-thị. Danh hiệu này được phiên âm là A-mu-la-bu [A-mộc-lạt-bổ] trong Minh sử khoảng năm 1481-1482

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn