Tiểu sử của người "Nữ kiệt miền Ðông" - biểu tượng người phụ nữ Nam Bộ anh hùng
Dòng chảy lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam là sự hội tụ nối tiếp của những trang sử vàng chói lọi, từ sự tuẫn tiết kiên trung của Tổng đốc Hoàng Diệu thời phong kiến, cho đến những chiến công oanh liệt của các thế hệ anh hùng thời đại Hồ Chí Minh. Tiếp nối tinh thần quả cảm của các "đóa hoa thép" Tiểu đoàn nữ Biệt động Lê Thị Riêng dưới sự chỉ huy của chị Đào Thị Hồng Nga, hay sự mưu trí của Nữ tình báo Nguyễn Thị Thanh Xuân, lịch sử quân sự nước nhà lại trang trọng khắc ghi tên tuổi của một bậc tiền bối, một vị nữ quân nhân huyền thoại — Đại tá, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Hồ Thị Bi.
Người phụ nữ được Bác Hồ kính yêu đích thân khen tặng danh hiệu “Nữ kiệt miền Đông” chính là một biểu tượng bất tử cho ý chí quật cường, tài thao lược kiệt xuất và tấm lòng trung kiên vô song của phụ nữ Nam Bộ anh hùng.
1. Người Con Của Vùng Quê Nam Kỳ Khởi Nghĩa
Đại tá Hồ Thị Bi (tên thật là Hồ Thị Hoa) sinh ra và lớn lên tại xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh) — vùng đất lửa giàu truyền thống cách mạng, nơi từng bùng lên ngọn đuốc Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940. Sớm thấu hiểu nỗi nhục nhã của người dân mất nước và cảnh áp bức bất công của chế độ thực dân, bà đã dấn thân vào con đường cách mạng từ rất sớm.
Năm 1937, khi vừa tròn 28 tuổi, bà vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Đông Dương. Ở những bước đi đầu tiên, bà hoạt động năng nổ trên mặt trận binh vận, tổ chức các cuộc đấu tranh bãi thị, đòi giảm thuế chợ, đứng lên bênh vực quyền lợi và che chở cho những người phụ nữ nghèo khổ bị bóc lột tại địa phương.
2. "Nữ Kiệt Miền Đông" Khiến Quân Thù Khiếp Đảm
Sau ngày Nam Bộ kháng chiến (23/9/1945), khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, bà rút về xây dựng căn cứ địa tại rạch Ông Hồ, xã Thới Tứ, huyện Hóc Môn. Dưới sự chèo lái của Đảng bộ địa phương, bà đã tự lực gây dựng lực lượng vũ trang, trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh du kích mật táo bạo, đập tan hàng loạt đồn bốt kềm kẹp của giặc.
Từ năm 1946 đến năm 1950, tên tuổi của bà trở thành nỗi kinh hoàng tột độ đối với thực dân Pháp và bọn tay sai bán nước qua những trọng trách:
Trưởng ban Công tác số 12 (Biệt động thành): Chỉ huy các mũi nhọn biệt động nội đô đánh hiểm, đánh đau ngay trong lòng đối phương.
Chỉ huy Đại đội 2804 kiêm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 935 (thuộc Trung đoàn 312 tỉnh Gia Định).


