Tiểu sử Lê Quan Vũ
LÊ QUAN VŨ
( 1905 - 1996 )
Ông Lê Quang Vũ, tên khai sinh là Lê Quang Bi, bí danh Vân Thanh, Chí Lê, Chín Vũ, bút hiệu Nhị Lê, sinh ngày 30/7/1930 tại ấp 2, xã Mỹ Ngãi, huyện Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là xã Mỹ Trà, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp).
Trong kháng chiến chống Mỹ, gia đình ông nuôi chứa cán bộ, làm hầm bí mật tại nhà và đi thư hợp pháp cho Thị xã uỷ Cao Lãnh. Các anh em của ông phần lớn tham gia cách mạng, trong đó anh thứ tư là Lê Văn Thường tham gia kháng chiến chống Pháp và chồng Mỹ, hy sinh năm 1967.
Trước năm 1945, ông học lớp nhì trường làng.
Ngày 25/8/1945, ông tham gia biểu tình giành chính quyền ở Cao Lãnh và vào đoàn thể Thiều nhi cứu quốc xã Ba Sao.
Ngày 25/1/1946, ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Thiều nhi Cứu quốc xã Ba Sao. Năm 1947, ông là Phó thư ký Thanh niên Cứu quốc xã, Phó ban Tuyên truyền xã, Trưởng ban Tình báo xã Ba Sao, huyện Cao Lãnh.
Ngày 02/5/1948, ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Thanh niên Cứu quốc huyện Cao Lãnh.
Từ tháng 6 đến 02/9/1948, ông là thư ký Văn phòng Uỷ ban Kháng chiến Hành chánh huyện Cao Lãnh. Tháng 11/1948, ông là Thư ký Ban mật vụ (Quân báo) huyện Cao Lãnh và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).
Năm 1949, ông phụ trách công tác nghiên cứu địch tình, Quân báo tỉnh Sa Đéc, sau đó, về làm thư ký riêng cho Trường Quân báo tỉnh Sa Đéc.
Tháng 7/1949, ông là Trường Văn phòng Ban Quân báo thị xã Sa Đéc. Tháng 10/1949, ông là Thư ký Chi Quân báo 377.
Năm 1950, ông được điều về Ban Quân báo Khu 8 và chuyến về cơ yêu Bộ Tư lệnh Khu 8 (4/1950), cấp bậc Tiểu đội phó. Năm 1951, giải thể Bộ Tư lệnh Khu 8, thành lập "Mặt trận Đồng Tháp" (Mỹ - Tân - Gò, Long - Châu - Sa), ông được phân công làm Trường tổ Cơ yêu Mặt trận Đồng Tháp.
Năm 1952, khi Mặt trận Đồng Tháp giải thể, ông được điều về Ban Cơ yêu Phân Liên khu miền Đông (3/1953), phụ trách điện “tối mật" cho Bộ Tư lệnh Phân Liên khu miền Đông.
Tháng 7/1954, Hiệp định Genève được ký kết, ông được chọn ở lại làm Cơ yêu Xứ uỷ Nam Bộ.
Từ năm 1955 đến năm 1961, ông làm thư ký Văn phòng Khu, tổ phó, tổ trường Văn thư Văn phòng Khu, Bí thư Chi bộ. Đến tháng 7/1961, ông được cử đi học Trường Đảng Khu (lớp sơ cấp khoá 15) cho đền tháng 10/1961.
Năm 1962, ông là cán bộ nghiên cứu “Ấp chiến lược" kiêm tố trường Văn thư Văn phòng Khu uỷ. Năm 1963 đến năm 1964, ông là cán bộ Ban nghiên cứu Khu uỷ, Bí thư Đảng uỷ Văn phòng Khu uỷ.
Năm 1965 đến 1967, ông là thư ký Bí thư Khu uỷ Khu 8 và là Phó Bí thư Đảng uỷ cơ sở Văn phòng Khu.
Tháng 11 năm 1967 đến tháng 8 năm 1968, ông là Trường Văn phòng Phân ban Tiền phương Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu 8 đi chỉ đạo trọng điểm Mỹ Tho và chiến dịch tổng tấn công Xuân Mậu Thân 1968.
Năm 1969 đến năm 1972, ông là Thư ký cho Bí thư, Phó Bí thư Khu uỷ.
Tháng 12/1972 đến 3/1976, ông là Phó Văn phòng Khu uỷ Khu 8, đảng uỷ viên Đảng uỷ Liên cơ Dân - Chính - Đảng Khu 8.
Tháng 3/1976 đến 02/1979, ông là Tỉnh uỷ viên dự khuyết, Chánh Văn phòng Tỉnh uỷ Đồng Tháp. Tháng 2-1979 đền 12-1980, ông là Tỉnh uỷ viên chính thức, Chánh Văn phòng Tỉnh uỷ Đồng Tháp.
Ngày 08/12/1980, ông là Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Tuyên huấn (nay là Ban Tuyên giáo), kiêm Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt - Xô (11/1983-1990), Chủ tịch Hội đồng xuất bản, Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật Tinh và là đại biểu Hội đồng nhân dân Tỉnh khoá II (1981-1985) và khóa III (1985-1989).
Từ tháng 8/1989 đến 02/1992, ông là Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trường Ban Tuyên giáo, kiêm Hiệu trường Trường Đảng Tỉnh. Tháng 4-1992, là Hiệu trưởng trường Đảng Tỉnh. Ngày 01/3/1996, ông nghỉ hưu.
Sau thời gian lâm bệnh nặng, ông qua đời ngày 06/4/2013, thọ 84 tuổi.
Ông Lê Quang Vũ đã được tặng Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quyết thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huy chương Giải phóng hạng Nhất và nhiều hình thức khen thường khác.



