Tiểu sử Nguyễn Văn Thư
Nguyễn Văn Thư (?-1794)
Theo sách Đại Nam nhất thống chí và Đại Nam liệt truyện do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, thì Khâm sai Chường dinh Thư ngọc hầu Nguyễn Văn Thư người huyện Kiến Phong, trấn Định Tường'. Thân sinh là ông Nguyễn Văn Núi và bà Lê Thị Nhạc gốc ở Bình Định, vào miền Nam khai thác lâm thủy sản và khai hoang trồng lúa, gia cảnh ngày một khá giả. Gia đình ông vốn có truyền thống giỏi nghề võ, bản thân ông từng đánh cọp nổi tiếng khắp vùng. Ông bà có năm người con trai: Nguyễn Văn Sùng, Nguyễn Văn Thư, Nguyễn Văn Kinh, Nguyễn Văn Diện và Nguyễn Văn Thập.
Ông Thư lập gia đình, vợ là người ở thôn Mỹ Xương (nay là xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp), là người con duy nhất trong gia đình, nên ông ở lại bên vợ.
Ông Nguyễn Văn Thư là người khẳng khái, có khí tiết. Năm Đinh Mùi (1787), Nguyễn Ánh sai người về vùng Sa Đéc mộ quân. Ông và hai người em cùng tham gia vào đội nghĩa binh. Ông được bố trí dưới trướng Tôn Thất Hội và ngay trong năm ấy, anh em ông được dịp thi thố tài năng ở Tham Lương và được phong chức Khâm sai cai cơ.
Tháng 6 năm Kỷ Dậu (1789), Nguyễn Ánh cho đặt thêm đạo Kiên Đồn ở cửa sông Tà Ôn thuộc dinh Vĩnh Trấn, Cai cơ Nguyễn Văn Thư cùng với Tham mưu Nguyễn Ngọc Chương được cử coi giữ và kiêm thu thuế của Hoa kiều. Tháng 10, ông được thăng làm Chánh trường chi Tiền chi Hậu quân, qua năm sau, thăng làm Khâm sai Tổng nhung cai cơ Phó tướng Hậu quân. Đây là chức võ quan cao cấp, trật Chánh nhị phẩm, hệ võ ban.
Sau, nhờ lập nhiều công trận, lại có đức độ trung dũng nên ông được phong chức Chường cơ. Trong năm Kỷ Dậu, ba anh em ông theo tướng Tôn Thất Hội đánh chiếm Hổ Cứ, gần Tòng Sơn (nay là Mỹ An Hưng, huyện Lấp Vò, Đồng Tháp). Cũng trong năm này, ba anh em ông lại theo chủ tướng đánh thành Quy Nhơn nhưng gặp sức kháng cự mạnh mẽ nên lui về Diên Khánh (nay là một huyện của tỉnh Khánh Hoà), rồi lại phải lui lần nữa về Gia Định. Khi ấy, Tôn Thất Hội mất, ông đang là phó tướng nên tạm lên thay và trực tiếp chỉ huy các chiến thuyền.
Đến năm Tân Hợi (1791), Nguyễn Vương định lại lệ thuế cho hai phủ Ba Thắc và Trà Vinh, lệnh cho Hậu quân phó tướng Nguyễn Văn Thư và Văn giáp Hàn lâm viện tham luận Trương Tiến Lộc trông coi các việc thuế khóa, kiện tụng ở hai phủ trên. Sau đó, ông được chuyển làm Khâm sai Tổng nhung cai cơ Phó tướng Tiền quân. Nhưng đến tháng 5 năm sau, thuộc cấp của ông nhũng nhiễu, việc bị phát giác, ông bị giáng làm Khâm sai cai đội.
Đến năm Giáp Dần (1794), ông được phục chức và sung vào đoàn quân giải vây thành Diên Khánh, rồi tiến đánh cửa biển Thị Nại, phá hủy được trại Tiêu Cô, Mai Hương.
Tuy thắng trận, nhưng ông và hai em (khi ấy Nguyễn Văn Kinh là Chánh ngự quân, Nguyễn Văn Diện là Hậu ngự quân) đều thiệt mạng do trúng đạn đại bác và trong cảnh hỗn loạn, thi hài của ông, hai em và nhiều tướng sĩ khác đều chìm mất tại cửa biển này.
Sau khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua, đã cho truy tặng các tướng sĩ có công dựng lại cơ nghiệp. Ông Nguyễn Văn Thư được ban Đặc Tiền Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng Trụ quốc, Khâm sai Chường dinh Thư ngọc hầu, được liệt thờ ở miều Trung Hưng Công Thần.
Mãi đến cuối năm Giáp Tuất (1814), sứ giả của triều đình đến Cù lao Giêng để báo hung tin và bàn bạc việc tổ chức lễ “du hồn” (đưa hồn về). Và ba hình nhân bằng sáp được làm từ kinh đô Huế, mặc võ phục thủy binh, có kích thước gần bằng người thật, tượng trưng thi hài của ông và hai em, mới được mai táng tại quê nhà, theo đúng lễ nghi quân cách.
Khu mộ của ba ông được gọi là Lăng Ba Quan Thượng Đẳng, hiện nằm trong một khu vườn của dòng Nguyễn Tộc, thuộc ấp Bình Quới, xã Bình Phước Xuân (trên Cù lao Giêng) huyện Chợ Mới (An Giang).



