Bài viết

Tiểu sử Nguyễn Văn Tròn

Đồng Tháp17/07/2026Đoàn phường Cao Lãnh (Đoàn phường Cao Lãnh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

NGUYỄN VĂN TRÒN

( 1868 – 1948 )

Thiền sư Hải Huệ có nhiều đệ tử nổi danh, như: Như Thập - Chánh Trí, Như Giới - Châu Viên, Như Khả - Chơn Truyền, Như Ngọc - Viên Thông, Như Trí - Huệ Nhẫn (1858 - 1913), Như Định - Quảng Huệ, Như Hồng - Quốc Ân, Như Minh - Hoằng Quang, Như Linh - Hoằng Đức, Như Liễn - Phố Lý...

Hòa thượng Như Liễn - Phổ Lý được chọn làm trụ trì chùa Bửu Lâm sau khi thiền sư Hải Huệ viên tịch. Thề danh của Hòa thượng Phổ Lý là Nguyễn Văn Tròn, người làng Bình Hàng Trung, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, sinh năm Mậu Thìn (năm 1868), xuất gia thọ giáo với thiền sư Hải Huệ tại chùa Bửu Lâm từ thuở nhỏ. Ngoài học Phật, sư Phổ Lý còn được thiển sư Hải Huệ truyền dạy võ nghệ. Dù không phải là trường tử nhưng do có đạo hạnh cao và năng lực uyên bác nên sư Phổ Lý được chọn uỷ thác kế thừa trụ trì chùa Tổ. Dáng dấp ngôi chùa này còn đến ngày nay là phần công lao xây dựng của Hòa thượng Phổ Lý.

Ngoài việc hoàng hoá, đào tạo đệ tử, Hòa thượng Phố Lý còn quan tâm đến sự thịnh suy của Phật giáo ở Nam Kỳ. Hòa thượng Như Trí -Khánh Hòa, chùa Tuyên Linh (Bến Tre) - người mở đầu phong trào chấn hưng Phật giáo - chủ trương phải thực hành ba việc lớn: chỉnh đồn tăng gia, kiên lập học Phật đường và diễn dịch, xuất bản kinh sách bằng chữ Việt.

Hòa thượng Phổ Lý đã tham gia và đóng vai trò quan trọng trong phong trào bên cạnh hòa thượng Khánh Hòa, giáo thọ Thiện Chiều. Năm 1929, trong khi Hoà thượng Khánh Hoà đích thân đi vận động hầu hết các chùa lớn ở Nam Kỳ tham gia phong trào, thì Hòa thượng Phố Lý theo phái đoàn do giáo thọ Thiện Chiếu hướng dẫn ra miền Trung và miền Bắc vận động. Để cho phong trào chấn hưng Phật giáo hoạt động có hiệu quả, Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học được thành lập nhằm tập hợp các tăng sĩ tha thiết với tiền đồ Phật giáo nước nhà, Hòa thượng Phổ Lý là một trong các vị hăng hái tham gia đầu tiên.

Chùa Bửu Lâm được khai sơn bởi một thiến sư của phái thiên Trúc Lâm Yên Tử, một tông phái Phật giáo chủ trương nhập thể, xem việc gắn bó giữa đạo pháp và dân tộc là chuẩn mực của Phật pháp, được hình thành trong thời nhà Lý và phát triển mạnh dưới thời nhà Trần. Truyền thông tốt đẹp này lại được phát triển mạnh dưới thời hòa thượng Phố Lý trụ trì chùa và mãi về sau này.

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, do ảnh hưởng phong trào quần chúng ngày một lên cao, nhất là phong trào tự vũ trang, Hòa thượng Phố Lý quy tụ một vài võ sĩ vẫn là học trò của Thiền sư Hải Huệ và Phòng Biếu ngày trước, là các ông: Lê Văn Dánh, Lê Văn Mai, Lê Văn Hộ, rồi tập trung một số thanh niên tin cậy kéo vào Sình Lớn, trên đất hội đồng Tường, thuộc làng Mỹ Thành (nay là xã Tân Hội Trung, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) đắp nến, cất chòi làm nơi dạy võ, chờ thời cơ tham gia khởi nghĩa. Hoạt động này được ngụy trang dưới hình thức nông dân vào thuê đất của hội đồng Tường làm ruộng. Các võ sĩ này còn làm ruộng giúp chùa.

Mờ sáng ngày 25/8/1945, hàng ngàn đồng bào trang bị nhiều loại vũ khí, từ các nơi rầm rập kéo vào quận lỵ Cao Lãnh khởi nghĩa giành chính quyền, trong đó, có một bộ phận quần chúng xuất phát từ chùa Bửu Lâm, do Hòa thượng Phố Lý tập hợp.

Để tham gia cuộc mít tinh và biếu tình tuần hành biểu dương lực lượng được tổ chức vào hai giờ chiều cùng ngày tại sân vận động Cao Lãnh, Hoà thượng Phố Lý cho đánh chuông trồng tập hợp Phật tử và đồng bào quanh vùng. Trước khi xuất phát, Hoà thượng phát biểu về đạo pháp và dân tộc, về tu hành và yêu nước để động viên quần chúng, khi nói, Hoà thượng xúc động đến rơi nước mắt. Lúc bây giờ dù đã 77 tuổi, nhưng Hoà thượng vẫn hăng hái cùng đồng bào đi bộ về Cao Lãnh, có lúc mệt, Hoà thượng ngồi nghi bên vệ đường, rồi lại đi tiếp không để ai dìu. Tại buổi lễ, Hoà thượng được thay mặt giới Phật giáo địa phương phát biểu về sự thành công của cuộc cách mạng và kêu gọi đồng bào trong giới đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng mà nhân dân vừa đạt được.

Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, chùa Bửu Lâm là nơi làm việc của một số cơ quan của Nam Bộ (Báo Tình Tân của Hội Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ) và Khu 7 (sau là Phân Liên khu miền Đông).

Hoà thượng Phổ Lý viên tịch vào đầu năm 1948, thọ 80 tuổi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn