Tiểu sử Nguyễn Việt Thắng
Nguyễn Việt Thắng (1948)
Ông Nguyễn Việt Thắng, sinh ngày 01/11/1948, quê quán xã Hoà An, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Cha là Nguyễn Văn Tông, cán bộ tiền khởi nghĩa, từng công tác tại Ty Công an Sa Đéc, Long Châu Tiền, mẹ là Đặng Thị Tốt, nguyên Hiệu phó Trường Học sinh miền Nam số 2.
Năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc. Từ năm 1956 đến năm 1963, là học sinh miền Nam tại các Trường số 11, 9, 14 (Hải Phòng). Năm 1962 đến 1968, ông học tại Thái Bình và tốt nghiệp cấp 3.
Năm 1968 đến năm 1969, ông học dự bị tại Trường Đại học Quốc gia Hoá dầu, Azerbaijan (Liên Xô cũ).
Năm 1969 đến năm 1974, ông theo học Đại học Tổng hợp Quốc gia Odessa, Ucraina (Liên Xô cũ). Năm 1974 đến năm 1978, ông là nghiên cứu viên tại Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng, thực hiện đề tài “Điều tra nguồn lợi tôm vịnh Bắc Bộ và ven bờ biển Việt Nam”.
Từ năm 1979, ông là Trường phòng Nghiên cứu giống Thuỷ sản, Phân viện Nghiên cứu Thuỷ sản (nay là Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 2, Thành phố Hồ Chí Minh). Ngày 10/7/1980, ông vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
Năm 1986, ông là Quyền Giám đốc Trung tâm nghiên cứu tôm Vũng Tàu, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 2.
Năm 1990 đến năm 1992, ông theo học lớp Cao cấp Chính trị tại Trường Nguyễn Ái Quốc (1990-1991) và lớp sau đại học, ngành Triết học tại Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ ChíMinh (1990-1992).
Năm 1991 đến 1993, ông là nghiên cứu sinh kỹ thuật nông nghiệp - sinh sản nhân tạo tôm càng xanh tại Trường Đại học Thuỷ sản (nay là Đại học Nha Trang) và được cấp bằng Tiến sĩ năm 1993.
Tháng 9/1993 đến tháng 02/1994, ông là chuyên gia sản xuất giống và nuôi tôm càng xanh tại Cuba, được Bộ Công nghiệp nghề cá Cuba tặng Bằng khen, Kỷ niệm chương.
Tháng 5/1994 đến tháng 9/1995, ông là Phó, rồi Trường Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 2, Thành phố Hồ Chí Minh, Bí thư Đảng uỷ Viện.
Tháng 8/1998, ông là Viện trường kiêm Chủ tịch Công đoàn Ngành Thuỷ sản Việt Nam, Bộ Thuỷ sản (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn).
Tháng 01/1999 đến tháng 7/2007, ông là Thứ trưởng Bộ Thuỷ sản, Uỷ viên Ban Cán sự Đảng Bộ Thuỷ sản.
Từ tháng 9 năm 2001, ông là Chủ tịch Hội nghề cá Việt Nam.
Năm 2005, ông là Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, từ năm 2006, ông là Uỷ viên Hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và là Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Biển Việt Nam.
Tháng 8/2007 đến 02/2009, ông là Thứ trường Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Tháng 3 năm 2009, ông nghỉ hưu và ngụ tại quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Quá trình công tác, ông đã nghiên cứu và công bố nhiều công trình khoa học, tiêu biểu như: “Sinh sản nhân tạo tôm càng xanh”, do Bộ Khoa học Công nghệ cấp bản quyền (1990), sách “Tôm càng xanh Việt Nam” (1993) và “Ứng dụng lọc sinh học trong thuỷ sản” (1994), giải thường B-Vifotex về “Giải pháp xử lý bệnh tôm biển năm 1994" (2001). Ngoài ra, ông còn tham gia nhóm nghiên cứu “Sinh sản nhân tạo tôm biển Việt Nam” được giải thường Nhà nước (2000).
Với những đóng góp của ông đối với nền khoa học nước nhà nói chung và ngành thuỷ sản nói riêng, ông đã được Đảng, Nhà nước tặng Huy hiệu 35 năm tuổi Đảng, Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Ba.



