Tiểu sử Nguyễn Xuân Thiếp
Nguyễn Xuân Thiếp (1918 - 1945)
Ông Nguyễn Xuân Thiếp, sinh ngày 7/3/1918 tại làng Tân Thạnh, quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên (nay thuộc huyện Thanh Bình, Đồng Tháp). Thân sinh ông là Nguyễn Xuân Côn (Phương Sơn) một chí sĩ phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục quê tỉnh Sơn Tây bị Pháp lùng bắt hồi năm 1908 và trốn vào ẩn cư ở Đồng Tháp Mười rồi lập gia đình tại đây.
Thuở nhỏ ông học ở Long Xuyên, đậu Tiểu học, rồi nghỉ ở nhà học chữ Hán và Đông y. Những năm 1944 - 1945 vì giao tình thơ văn mà thân với Huỳnh Phú Sổ (người khai sáng Phật giáo Hòa Hảo).
Ông làm thơ từ hồi còn rất trẻ (10 - 15 tuổi), với bút danh Việt Châu. Lúc mới 16 tuổi đã có thơ xuất bản và đến năm 26 tuổi (1944) đã có 4 tập thơ đến với độc giả trong toàn quốc. Trong đó, có tập Hải Đường hoa rụng và Lông ngỗng gieo tình (Truyện Mị Châu - Trọng Thủy) được nhiều độc giả yêu thơ tán thưởng. Thơ đăng trên báo Mai của Đào Trinh Nhất ở Sài GònGió Mùa, Dân báo... trong phần phụ trương văn chương của báo Lục tỉnh tân văn. Tại quê nhà Đốc Vàng Thượng (thuộc xã Tân Thạnh, huyện Thanh Bình, Đồng Tháp), ông lập Văn đàn Độc Vàng Thượng. Ông là bạn thơ với Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Lê Tràng Kiều, Thụy An, Hoàng Dân...
Thuở sinh thời, nhà thơ Việt Châu ẩn sĩ quy điển, thích nghề ruộng rẫy, thường hòa mình trong cảnh vật thiên nhiên. Tức cảnh sinh tình, với hồn thơ lai láng, ông cho ra đời những bài thơ đậm đà chất hương đồng cỏ nội.
Phần lớn thơ ông thất lạc trong kháng chiến chống Pháp, gia đình chỉ còn giữ lại được một số bài tiêu biểu, trong đó có bài “Hoa Ô Môi”:
Bạn hãy dừng thuyền, lăng ngắm xа...
In nên trời biếc một vùng hoa...
Mơ màng bạn nói như đương mộng:
- Hay gác Đằng Vương, bóng Lạc hà...
Bạn tới gần đi! Bạn tỉnh chưa? Một loài hoa lạ sông tiêu sơ,
Giữa vùng hoang dã trơ vơ đứng, Bên mé kinh nông, nước đục hở.
Xuân đã về đây, hoa nở rồi,
Màu phơn phớt đỏ, nụ như môi.
Của nhiều trinh nữ son chưa thâm
Trong bóng ngày xanh, mủm mỉm cười...
Học giả Nguyễn Hiến Lê đã nhận xét: “Thơ anh trôi chảy, bóng bẫy, lãng mạn như các nhà thơ trẻ thuở ấy, nhưng cũng có những bài tả những cảnh chưa ai tả, như hoa ô môi".
Lông ngỗng gieo tình là một cuốn tiểu thuyết dã sử bằng thơ viết về sự tích Trọng Thủy - Mị Châu trong truyền thống lịch sử và văn chương truyền khẩu Việt. Thơ Việt Châu bóng bẩy, trôi chảy như dòng sông bất tận xuôi về biển cả như phần đông các nhà thơ lãng mạn thời tiền chiến. Đánh giá về thi tài Việt Châu, Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Lời kể chuyện bằng thơ là một lỗi rất khó, xưa nay cũng chỉ mới có tập Kim Vân Kiều là quán tuyệt cổ kim, vậy mà ông Việt Châu đã viết tập Lông ngỗng gieo tình được như thế, nhất là lại dùng lỗi song thất lục bát là lôi nay hình như các thi sĩ không dùng đến...". Các tác phẩm của ông đã xuất bản: Xuân xanh (1934). Tình thơ (1942), Lông ngồng gieo tình (1942), Hải Đường hoa rụng (1944). Tráng si ca (1945).
Ông là cô vẫn của giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo trong biên soạn Thi văn sâm giảng và là người có uy tín trong Phật giáo Hòa Hảo, nên trong Quốc dân Đại hội Tân Trào năm 1945, ông là một đại biểu của Phật giáo Hòa Hảo trong phái đoàn Việt Minh cùng hai đại biểu khác là bà Nguyễn Thị Ngọc Tốt (tức Nguyễn Thị Thập, Xứ uỷ viên Xứ uỷ Nam Kỳ) và ông Nguyễn Ngọc Bổi (tức Tám Dưa, Bí thư Liên Tỉnh uỷ Hậu Giang).
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông và một số nhân vật lãnh đạo cao cấp của Phật giáo Hòa Hảo tham gia tổ chức biểu tình cướp chính quyền ở Cần Thơ, với ý đồ thành lập vùng tự trị Phật giáo Hòa Hảo ở miền Tây. Âm mưu bị bại lộ, nhiều người bị bắt và bị tử hình tại Cần Thơ ngày 17/10/1945, trong đó có ông Huỳnh Thạnh Mậu (em ông Huỳnh Phú Sổ), Tú tài Trần Nguyên Thiều (Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Cần Thơ), ông Trần Ngọc Hoành (con ông Trần Văn Soái, tức Năm Lửa) và ông, lúc đó mới 27 tuổi.


