Tiểu sử về Bác Võ Nguyên Giáp
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (25/8/1911 – 4/10/2013), bí danh Văn, là Đại tướng đầu tiên và Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông là nhà lãnh đạo quân sự kiệt xuất, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là kiến trúc sư trưởng cho các chiến thắng quân sự mang tính bước ngoặt của Việt Nam trong thế kỷ 20.
1. Tóm tắt Tiểu sử Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Thời trẻ và xuất thân: Xuất thân trong gia đình nhà nông học thức, ông tham gia phong trào yêu nước từ năm 1925, gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng, tốt nghiệp Cử nhân Luật tại Đại học Đông Dương và từng là giáo viên dạy Lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long (Hà Nội).
Giai đoạn 1940 – 1945: Năm 1940, ông sang Trung Quốc gặp Nguyễn Ái Quốc và gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngày 22/12/1944, ông thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (34 chiến sĩ) — tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954): Được phong quân hàm Đại tướng năm 1948 khi mới 37 tuổi. Ông trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch lớn: Chiến dịch Việt Bắc (1947), Biên giới (1950) và đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).
Kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975): Với cương vị Tổng Tư lệnh, ông chỉ đạo xây dựng quân đội chính quy, mở đường Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển, điều hành các chiến dịch lớn như Mậu Thân 1968, Điện Biên Phủ trên không (1972) và Đại thắng Mùa Xuân 1975.
Cống hiến sau chiến tranh: Giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, phụ trách khoa học - kỹ thuật và giáo dục, tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp phát triển đất nước cho đến khi qua đời năm 2013 ở tuổi 102.
2. Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954)
Bối cảnh chiến dịch
Cuối năm 1953, Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm chia làm 3 phân khu, được trang bị hỏa lực mạnh nhất Đông Dương. Tướng Navarre và giới quân sự Pháp - Mỹ khẳng định đây là "pháo đài không thể công phá", nhằm bẫy và tiêu diệt chủ lực Việt Minh.
Quyết định lịch sử làm thay đổi cục diện
Nngày 26/01/1954, trên cương vị Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa ra quyết định khó khăn nhất trong đời cầm quân: hoãn giờ nổ máy tiến công, ra lệnh kéo pháo ra và chuyển từ phương châm "Đánh nhanh, thắng nhanh" sang "Đánh chắc, tiến chắc".
Quyết định này dựa trên đánh giá thực tế:
Tập đoàn cứ điểm của Pháp đã tăng cường phòng thủ củng cố.
Lực lượng ta chưa có kinh nghiệm đánh công kiên quy mô lớn ở đồng bằng/lòng chảo.
Đánh nhanh sẽ chịu thương vong cực kỳ lớn và nguy cơ không bảo toàn được lực lượng chủ lực.
Diễn biến 3 đợt tiến công (13/03 – 07/05/1954)
1. Đợt 1 (13/03 – 17/03/1954): Tiêu diệt phân khu Bắc, san bằng các cứ điểm Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo, mở cánh cửa phía Bắc vào lòng chảo Điện Biên.
2. Đợt 2 (30/03 – 30/04/1954): Tiến công các đồi phía Đông (A1, C1, C2, D1...), đào hệ thống giao thông hào siết chặt vòng vây, thắt chặt đường tiếp tế không trung của Pháp.
3. Đợt 3 (01/05 – 07/05/1954): Tổng công kích toàn bộ các cứ điểm còn lại. Chiều ngày 07/05/1954, lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" tung bay trên mái hầm Tướng De Castries. Toàn bộ Bộ Chỉ huy Pháp tại Điện Biên Phủ bị bắt sống.
3. Ý nghĩa Lịch sử của Chiến thắng
Đối với Việt Nam: Chấm dứt 80 năm ách đô hộ của thực dân Pháp, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), giải phóng hoàn toàn miền Bắc và tạo tiền đề cho cuộc kháng chiến chống Mỹ thống nhất đất nước.
Đối với Thế giới: Được coi là mốc son "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", lần đầu tiên một quân đội của dân tộc thuộc địa ở châu Á đánh bại một quân đội đế quốc phương Tây trong chiến tranh quy mô lớn. Chiến thắng đã khởi đầu cho sự sụp đổ dây chuyền của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới, đặc biệt là tại châu Phi.



