TIỂU THƯ PHỐ HÀNG VÀ KÝ ỨC KHOÁ ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT TRƯỚC KHI ĐI B
Rời quê hương vào chiến trường, nhiều trí thức trẻ gửi lại thanh xuân trong những bộ hồ sơ lưu trữ vừa được trao trả sau hơn nửa thế kỷ.

Năm 1973, cô gái Trần Thị Phú Bình khi đó mới 23 tuổi. Là "gái phố Hàng" chính gốc, sinh ra và lớn lên tại phố Hàng Thiếc, Hà Nội, quyết gạt bỏ cái mác tiểu thư, bà Bình viết đơn tình nguyện đi B, vào miền Nam chiến đấu, công tác. Trước khi chính thức đặt chân vào chiến trường khốc liệt, cô gái phố cổ cùng các đồng đội phải trải qua một khóa huấn luyện đặc biệt kéo dài 3 tháng tại trường K105.
Khóa luyện quân "biệt kích" và cuộc vượt sông bằng dây võng
Nhớ lại những ngày đầu rời xa phố thị, bà Bình kể lại bằng giọng hóm hỉnh, khóa đào tạo tại trường K105 thực chất là để rèn luyện thể lực và kỹ năng sinh tồn mà bà và bạn bè vẫn gọi đùa là "đào tạo biệt kích".
Để chuẩn bị cho những chuyến đi bộ xuyên rừng trường kỳ, những cô gái, chàng trai vốn chỉ quen với sách vở phải tập đeo gạch trên lưng, hành quân qua những con đèo dốc để làm quen với sức nặng, rèn sự bền bỉ.
"Phải đeo gạch này, rồi phải vượt qua đèo này, cuối cùng chúng tôi mới được vào chiến trường", bà Bình nhớ lại.

Bà Trần Thị Phú Bình kể lại ký ức đi B tại không gian trưng bày "Thanh xuân gửi lại"
Sau khóa huấn luyện, bà vào chiến trường Miền Đông Nam Bộ, thuộc Trung ương Cục miền Nam. Công việc ban đầu của bà là phóng viên của báo Giải Phóng, sau đó chuyển sang phòng Tuyên truyền Chính trị của Bộ Giáo dục miền Nam, trực thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng.
Trong ký ức của nữ phóng viên đi B, những ngày tháng ở chiến trường là chuỗi thử thách nghẹt thở mà bà chưa từng hình dung khi còn ở Hà Nội. Bà nhớ mãi lần vượt sông Hàm Luông khi bản thân hoàn toàn không biết bơi. Trong đêm tối, để đưa được bà qua sông, một đồng đội đã tháo dây võng ra buộc vào tay bà.
"Bạn ấy lấy dây võng buộc vào tay tôi, một tay tôi nắm dây võng để bạn kéo đi, tay kia bám vào cái bòng - một cái túi nilon đựng quần áo thổi phồng lên làm phao, tay còn lại thì giơ cao khẩu súng K54 lên khỏi mặt nước. Chúng tôi vượt sông trong tiếng máy tàu địch xập xình ở phía xa, quả thực lúc đó rất hồi hộp, không phải sợ chết mà chỉ sợ rơi vào tay địch thì không hoàn thành nhiệm vụ", bà Bình kể.
Không chỉ những dòng sông, bà còn đi qua "cánh đồng chó ngáp" ở Long An thuộc vùng Đồng Tháp Mười. Đó là vùng đất mà cái nắng, cái nóng khủng khiếp đến mức người đời ví von con chó chạy qua cũng phải ngáp vì kiệt sức. Khi sang đến bờ bên kia, tất cả phải chạy thục mạng trên những gốc rạ sắc nhọn trong đêm tối để tránh hỏa lực địch, dù chân có xước xát, chảy máu cũng không ai dám dừng lại.
Sau ngày giải phóng, bà Bình về tiếp quản và tiếp tục gắn bó với ngành giáo dục, làm giáo viên rồi về làm biên tập viên sách tại Nhà xuất bản Giáo dục từ năm 1978 cho đến khi nghỉ hưu.
Cuộc hội ngộ của thầy giáo giấu vết thương nơi chiến trường
Cũng giống như bà Bình, ông Đinh Đăng Định (sinh năm 1945, quê Ninh Bình, công tác tại Hà Nội) cũng gửi lại tuổi trẻ của mình nơi chiến trường miền Nam.
Năm 1970, khi đang là giáo viên dạy Văn và Lịch sử, ông nhận lệnh điều động đi B theo yêu cầu của Bộ Giáo dục. Trên tinh thần tự nguyện của tuổi trẻ thời bấy giờ, ông lên đường với khát vọng góp phần vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Suốt từ năm 1970 đến năm 1976, ông Định công tác tại miền Nam với nhiệm vụ chính là giáo viên. Ông chia sẻ, cuộc sống chiến trường là những ngày tháng vượt đèo lội suối vô cùng vất vả mà thế hệ trẻ ngày nay khó lòng tưởng tượng được hết. Trong một chuyến đi, ông từng bị thương, nhưng khi trở về cơ quan, ông đã quyết định không đăng ký để được xác định thương binh.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
"Lúc đó tôi nghĩ những hy sinh, mất mát của mình còn rất nhỏ bé so với bao nhiêu đồng đội khác đã ngã xuống nên tôi không đăng ký. Sau này, khi đất nước thống nhất, anh em đồng nghiệp có động viên làm thủ tục để hưởng chế độ nhưng tôi bảo thôi, giờ mọi chuyện cũng đã qua rồi," ông Định chia sẻ về lý do giấu đi vết thương năm xưa.

Ông Đinh Đăng Định, một cựu cán bộ đi B
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông ở lại công tác thêm một năm trước khi xin chuyển ra Bắc vào năm 1976 để đoàn tụ gia đình và tiếp tục sự nghiệp giáo dục.
Sau hơn nửa thế kỷ, cả bà Bình và ông Định đều không ngờ những giấy tờ cá nhân từ ngày đầu lên đường đi B vẫn được lưu giữ vẹn nguyên tại Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước. Tại triển lãm "Thanh xuân gửi lại" do Cục tổ chức, bà Bình không giấu được sự xúc động khi cầm trên tay "tờ cắt lương thực" cũ kỹ.
Vào thời điểm năm 1973, lương thực là thứ vô cùng quý giá. Tờ giấy cắt 12kg gạo mỗi tháng để chuyển lương thực của bà vào trường đào tạo K105 là minh chứng cho một thời kỳ gian khổ nhưng sống đầy lý tưởng, ý nghĩa. Ngoài ra, bà còn nhận lại được cuốn sổ lý lịch Đoàn - kỷ vật mà bà coi là trân quý nhất của tuổi thanh xuân.
"Tôi mãi mãi tri ân Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước vì đã giữ được những thứ mà tôi không thể ngờ tới", bà nói.

Cuốn sổ tiết kiệm của một số cán bộ đi B được trưng bày
Còn đối với ông Đinh Đăng Định, việc cầm lại bộ hồ sơ đi B khiến ông cảm thấy hạnh phúc vô hạn. Ông coi bộ hồ sơ không chỉ là giấy tờ hành chính mà là bằng chứng sống động về một thời trẻ tuổi vinh quang để giáo dục con cháu.
"Tôi muốn để cho con cháu thấy rằng ông của chúng đã có một thời chiến đấu như thế, để chúng noi theo bài học về lòng yêu nước," ông Định tâm sự.


