Bài viết

Tiểu thuyết sử thi chống Mỹ - nhìn từ triết học liên văn hóa

Ninh Bình06/05/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nhìn từ triết học liên văn hóa (The Intercultural Philosophy) - tìm hiểu những hiện tượng mang tính kết tinh do giao lưu, tiếp biến từ nhiều nguồn văn hóa nên tạo được những nét ánh sáng khác lạ, mới mẻ, để tạo nên một hệ hình (paradigm), thì văn học chống Mỹ là hệ hình của văn học sử thi, với các lý do sau.

Tính cách người Việt luôn hướng tới cái trong sáng, cái cao cả, chết trong còn hơn sống đục. Dù có đang sống nơi giàu sang nhưng vẫn hướng về quê nhà, không đâu bằng quê nhà có thể là nghèo nhưng trong sáng êm đềm: Ta về ta tắm ao ta/ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn. Con cò trong ca dao là biểu trưng cho người nông dân Việt dù chẳng may chịu cảnh sa cơ lỡ bước, dù có chịu chết nhưng vẫn hướng tới sự trong sạch: Có xáo thì xáo nước trong/ Đừng xáo nước đục đau lòng cò con. Tính cách này rất phù hợp với đặc điểm tôn thờ, ngưỡng vọng hướng về cái cao cả của sử thi.

Sinh sống ở mảnh đất có nhiều kẻ thù, cả hai chân, bốn chân và không chân nên người Việt rất sùng bái những anh hùng đánh giặc giữ yên bờ cõi. Theo thống kê của GS Ngô Đức Thịnh thì riêng tỉnh Bắc Ninh trong số 600 vị Thành hoàng thì có 469 là nhân thần, trong đó đa số là các nhân vật lịch sử hay nhân vật huyền thoại nhưng đã được lịch sử hoá. Ở Hà Tây (cũ) trong số 185 vị Thành hoàng là nhân thần thì có khoảng 2/3 là nhân vật lịch sử. Chỉ riêng trong tỉnh Nam Hà (cũ) Trần Hưng Đạo được thờ ở 400 làng xã[1]. Trong “tứ bất tử” thì có hai vị là anh hùng, Phù Đổng Thiên Vương và Tản Viên Sơn Thánh. Đấy là cách người Việt ghi công các anh hùng, như Thánh Gióng đuổi giặc hai chân là kẻ thù xâm lược, như Sơn Tinh đuổi giặc bốn chân là thú dữ và không chân là thiên tai. Thậm chí sự ngưỡng vọng của người Việt còn nâng đến mức tuyệt đối là cho thần tượng bay lên trời sống cùng các vị Tiên, và dĩ nhiên là phong thánh bất tử cho họ. Cho nên cũng dễ hiểu Đền thờ Đức Thánh Trần có ở rất nhiều nơi trên đất nước ta. Có thể nói phẩm chất anh hùng của sử thi có ở trong máu của mỗi người Việt, nhất là mỗi khi có kẻ thù xâm lăng thì phẩm chất ấy càng trỗi dậy mạnh mẽ.

Là một thể loại non trẻ trong gia đình văn học Việt Nam, do vậy không thể đòi hỏi nó có ngay một hệ thi pháp già dặn, vững vàng. Mà đã gọi là trẻ thì luôn có xu hướng hấp thu cái đi trước, cái mới. Cái đi trước ở đây là nói tới tư duy sử thi, cụ thể là sử thi phương Đông. Sử thi phương Đông luôn tôn thờ, nhấn mạnh những phẩm chất cao cả, nhất là trong sử thi Ấn Độ mà tiêu biểu là MahabharataRamayana. Mahabharata dài 22 vạn câu gấp 7 lần IliátÔđixê của Hy Lạp cộng lại. Ramayana dài gần 5 vạn câu. Sử thi Ấn Độ vừa miêu tả chiến tranh vừa rất coi trọng miêu tả sự xung đột giữa cái thiện và cái ác, giữa đạo lý và phi đạo lý. Mục đích của chiến tranh là hoà hợp. Điều luật của chiến tranh là lẽ công bằng. Những điều ấy đã góp phần tạo ra một “tinh thần Ấn Độ” đặc sắc. Tinh thần Ấn Độ ảnh hưởng đến các nước Đông Nam Á trước Công nguyên đi cùng với con đường truyền bá đạo Phật. Tư tưởng Phật giáo cũng hướng tới sự cao cả, thánh thiện. Biểu tượng Đức Phật nghìn tay nghìn mắt là một hình ảnh rõ nhất, tập trung nhất về khát vọng cao cả nhìn thấu bốn cõi (nghìn mắt) để thấy sự đau khổ trầm luân của chúng sinh mà ra tay (nghìn tay) cứu độ. Nhờ có những nét tương đồng mà tinh thần Phật giáo đã nhanh chóng hoà nhập, ăn sâu rồi trở thành quốc giáo một thời gian dài ở đất nước Đại Việt.

Tinh thần Ấn Độ, tư tưởng tích cực của đạo Phật ảnh hưởng tới và cùng với văn hoá bản địa góp phần tạo ra một tính cách Việt khoan hoà, nhân ái, hướng thượng, không thích chiến tranh, nếu buộc phải chiến tranh thì cũng vì mục đích hoà giải, hoà hợp, hoà bình. Đó cũng chính là cái mà văn học hướng tới để miêu tả, phản ánh. Cũng đúng với quy luật, thời có chiến tranh thì tính cách kia thể hiện rõ hơn và văn học phản ánh sâu đậm hơn.

Phía Bắc giáp ngay nước ta là Trung Quốc rộng lớn nhưng chiến tranh liên miên. Những bộ tiểu thuyết cổ điển về chủ đề chiến tranh như Tam quốc diễn nghĩa hầu như người Việt ai cũng biết đến hạt nhân ý nghĩa tích cực của nó là hướng con người đến cái nhân (như Lưu Bị “tuyệt nhân”), cái nghĩa (Quan Công “tuyệt nghĩa”), cái dũng (Trương Phi “tuyệt dũng”), cái trí (Khổng Minh “tuyệt trí”); căm ghét cái gian (Tào Tháo “tuyệt gian”). Bậc kỳ tài về binh pháp là Tôn Tử có ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược đánh du kích trong kháng chiến toàn dân chống ngoại xâm của nhân dân ta. Văn học Việt Nam viết về chiến tranh có quan hệ qua lại với văn học Trung Quốc cùng đề tài là lẽ đương nhiên. Nhưng do tính cách bản địa quy định mà nó chỉ tiếp nhận những gì là tinh hoa, những gì là phù hợp. Không ngẫu nhiên trong số các đại thụ thơ Đường Tống thì Đỗ Phủ được người Việt ưa thích hơn cả. Vì Đỗ là nhà thơ dân đen, nhà thơ hiện thực và nhất là nhà thơ phản chiến với những bài thơ đẫm nước mắt như Binh xa hành, Tam lại, Tam biệt… nổi tiếng.

Cái mới ở đây là sự hấp thu từ văn học Nga Xô-viết. Trước 1975 cửa ngõ quan hệ của chúng ta hầu như chỉ mở thông với các nước xã hội chủ nghĩa, mà Liên Xô là chủ yếu. Các tác phẩm sử thi của Liên Xô vĩ đại được in với số lượng rất lớn đến tay bạn đọc Việt Nam: Số phận con người (Sôlôkhốp), Tuyết bỏng, Bến bờ, Lựa chọn (Bônđarep), Gắng sống đến bình minh, Bia mộ (Bưcốp), Sống mà nhớ lấy (Rasputin)... và không thể thiếu những bộ tiểu thuyết sử thi kinh điển: Chiến tranh và hoà bình, Sông Đông êm đềm... Đấy là chưa nói tới ảnh hưởng văn hoá phim ảnh. Những ai có tuổi thanh thiếu niên thời chống Mỹ đều có kỷ niệm mỗi tuần mong chóng đến buổi tối có chiếu trên màn ảnh rộng ngoài bãi cỏ “bộ phim màu chiến đấu của Liên Xô”!

Tất cả những điều trên cho phép đi đến một kết luận: tính chất sử thi luôn là một đặc tính, thuộc tính của văn học Việt Nam từ trước tới nay và mãi về sau. Chỉ nên phát triển nó, phát huy nó chứ không thể và cũng không phủ nhận được nó. Những ai “dị ứng” với văn học sử thi cần nên có một suy nghĩ khác.

Nhìn vào tiến trình vận động của tiểu thuyết sử thi Việt Nam từ 1945 đến nay dễ thấy có một quy luật: sự phát triển của thể loại này luôn gắn liền với những biến động lịch sử của dân tộc, của thời đại. Văn học là tấm gương phản ánh lịch sử nhưng đúng như tên gọi, tiểu thuyết sử thi là thể loại nhạy cảm hơn cả với bước đi của lịch sử, với những sự kiện lịch sử.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn