Tiêu Văn Mẫn — người chính trị viên đợi đối phương tới cách hai mươi mét
Trong trận phòng ngự Ngọc Bờ Biêng tháng 11-1967, Tiêu Văn Mẫn giữ bộ đội không nổ súng sớm, chờ lực lượng Mỹ tới cách khoảng 20 mét mới phát lệnh, bảo vệ vững trận địa.
Tháng 11-1967, trong Chiến dịch Đắc Tô 1, Chính trị viên Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24A Tiêu Văn Mẫn đi kiểm tra trận địa tại Ngọc Bờ Biêng, huyện Sa Thầy, Kon Tum thì nhận tin một tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn dù 173 Mỹ đổ bộ chỉ cách tuyến phòng ngự của ta khoảng 200 mét. Ông điện cho tiểu đoàn trưởng đề nghị tổ chức mũi thọc sâu, còn mình ở lại chỉ huy giữ trận địa. Khi đối phương tiến lên, Mẫn liên tục nhắc chiến sĩ bình tĩnh, chỉ nổ súng theo lệnh. Khoảng cách rút xuống còn 20 mét, ông dùng AK bắn ngã ba người đi đầu; toàn tuyến đồng loạt khai hỏa.
Hỏa lực bất ngờ ở cự ly gần buộc đối phương tháo lui. Những đợt tiến công tiếp theo vẫn không đánh bật được đơn vị khỏi trận địa. Nhiệm vụ phòng ngự có ý nghĩa ghìm lực lượng của Lữ đoàn dù 173 để chủ lực Mặt trận Tây Nguyên triển khai đòn đánh khác. Tiêu Văn Mẫn được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ sau trận này. Quyết định chờ tới 20 mét không phải hành động liều lĩnh bột phát. Bộ đội thiếu đạn, địa hình rừng núi hạn chế tầm quan sát; nổ súng xa sẽ để lộ vị trí mà hiệu quả thấp. Người chỉ huy phải giữ được thần kinh của cả tuyến đến đúng giây.
Mẫn sinh trong một gia đình nghèo ở xã Hành Minh, huyện Nghĩa Hành, Quảng Ngãi. Cha sớm mù, mẹ tần tảo, ông phải làm thuê từ nhỏ. Mười tám tuổi ông vào thanh niên xung phong; năm 1953, khi hai mươi tuổi, nhập ngũ đánh Pháp. Sau năm 1954 ông tập kết ra Bắc, lập gia đình với một nữ nhân viên y tế Hà Nội. Đầu năm 1966, để lại vợ trẻ và con nhỏ, ông vào Tây Nguyên trong đội hình Trung đoàn 24A, ban đầu làm chính trị viên đại đội. Chỉ từ tháng 7-1967 đến tháng 10-1968, ông lần lượt đảm nhiệm bốn cương vị, lên Phó chính ủy trung đoàn.
Ba trận tiêu biểu gắn với hồ sơ phong tặng Anh hùng của ông gồm trận tao ngộ chiến ở chân Ngọc Bờ Biêng với Lữ đoàn dù 173 năm 1967, trận phòng ngự tại đây trong Chiến dịch Đắc Tô 1 và trận diệt đại đội Lôi Hổ tháng 10-1968. Ở trận cuối, tiểu đoàn trưởng bị ốm, Tiêu Văn Mẫn trực tiếp thay chỉ huy. Là cán bộ chính trị, ông vẫn mang AK và chiến đấu như một tay súng. Trong điều kiện chiến trường, ranh giới giữa công tác tư tưởng và chỉ huy hỏa lực không tách rời: lời động viên chỉ thuyết phục khi người nói cùng chịu nguy hiểm.
Khắc nghiệt lớn nhất ở Tây Nguyên không chỉ là giao tranh. Năm 1968–1969, có lúc bộ đội mỗi người chỉ được một lạng gạo mỗi ngày, phần còn lại là sắn và rau rừng. Sốt rét, thiếu muối làm cơ thể suy kiệt. Tư lệnh Mặt trận Hoàng Minh Thảo có tiêu chuẩn năm lạng gạo nhưng tự nguyện chỉ ăn hai lạng. Cuối năm 1969, Mẫn tới Tỉnh đội Kon Tum xin một ít muối, mang về chia cho mỗi chiến sĩ một nhúm. Đó là cách ông hiểu công tác chính trị: người chỉ huy không có khẩu phần riêng khi cấp dưới đang đói.
Qua 47 năm quân ngũ, Tiêu Văn Mẫn tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc. Năm 1988, khi đã là Thiếu tướng, Phó tư lệnh về chính trị Quân đoàn 3, ông vẫn gần gũi sĩ quan trẻ, ghé phòng ban chơi cờ và hỏi thăm cuộc sống. Đầu năm 1990, ông về Quân khu 5 làm Chủ nhiệm Chính trị rồi Phó tư lệnh về chính trị. Trên cương vị lãnh đạo hội đồng nhà đất, ông đề nghị cấp đất công khai cho cán bộ có gia đình nhưng chưa có nhà.
Riêng mình, Tiêu Văn Mẫn vẫn ở nhà công vụ và trả lại khi nghỉ hưu, trở về căn nhà tại Nam Đồng, Hà Nội. Ông cho rằng nếu người chỉ huy tham phần hơn của cấp dưới thì không thể giữ tình đồng đội. Ngày 10-10-2018, trong lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân do Quân đoàn 3 tổ chức, ông nói vinh dự ấy thuộc về những người đã đồng cam cộng khổ. Lời nói không phải cách khiêm nhường theo nghi thức, mà tóm tắt một nguyên tắc sống kéo dài từ ngày chia nhúm muối tới việc phân nhà sau chiến tranh.
Tiêu Văn Mẫn được nhớ bởi tiếng cười vang và phong thái gần gũi, nhưng phía sau là bản lĩnh của người từng giữ cả đơn vị nằm im khi đối phương tới rất gần. Hai mươi mét ở Ngọc Bờ Biêng, một lạng gạo giữa mùa thiếu đói và một nhúm muối chia đều là những con số nhỏ tạo nên chân dung vị tướng. Ông xây dựng sức mạnh không bằng đặc quyền của người chỉ huy mà bằng sự bình đẳng trong gian khổ. Vì thế, khi ông nói “không có đồng đội làm sao có mình”, đó chính là kết luận của gần nửa thế kỷ sống giữa những người lính.



