Tìm hiểu về cuộc khởi nghĩa của Hoàng Đình Kinh (Lạng Sơn) thông qua hiện vật bảo tàng
Tìm hiểu về cuộc khởi nghĩa của Hoàng Đình Kinh (Lạng Sơn) thông qua hiện vật bảo tàng
Nhân kỷ niệm 125 năm, Hoàng Đình Kinh, thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa có tên Cai Kinh chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Lạng Sơn qua đời, để giúp bạn đọc có thêm thông tin về gia thế, nguồn gốc, quê hương, thân tộc của Hoàng Đình Kinh xưa và nay; Về vị trí, vai trò, ảnh hưởng và thành tích của cuộc khởi nghĩa Hoàng Đình Kinh trong chống phỉ, cướp và giặc Pháp và bước đầu khẳng định Hoàng Đình Kinh có chịu ảnh hưởng của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX… Ban biên tập xin trích đăng một số bài tham luận đã tham dự hội thảo về thân thế, sự nghiệp Hoàng Đình Kinh tại quê hương ông vừa qua.
Hiện nay tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đang lưu giữ 02 hiện vật có gắn với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nghĩa quân Hoàng Đình Kinh ở vùng Bắc Giang- Lạng Sơn từ năm 1880-1888. Trong hồ sơ văn vật hiện đang lưu trữ tại phòng Quản lý hiện vật có ghi chép:1. Nòng súng hỏa mai: SĐK 8437/ KL1006, chất liệu sắt, kích thước dài 1,37m. “Do ông Cai Kinh làm ra, trong phong trào nổi lửa tổ chức nghĩa quân đánh Pháp từ năm 1880, đã dùng để chiến đấu khắp nơi trong nhiều trận thắng lợi, nhất là trận núi Cai Kinh. Đặc biệt súng này ông đặt tại căn cứ hang làng Lẫm? vọng gác chính để bắn pháo hiệu báo động và ra lệnh chiến đấu cho nghĩa quân như trận Bắc Lệ thắng lợi lớn, địch chết nhiều không rõ được. Sau khi ông thất bại và hy sinh, nhân dân lấy súng này về cất giấu và để thờ trong đình, chùa. Cứ hàng năm ngày cúng bái nhân dân đem ra bắn thử chào mừng và tưởng nhớ lại người đã chiến đấu anh dũng bảo vệ nhân dân địa phương trong phong trào Cai Kinh”
Nòng súng hỏa mai - nghĩa quân Cai Kinh dùng để đánh Pháp ở Hữu Lũng, Lạng Sơn năm 1880.2. Nỏ: SĐK 405/ĐM62, chất liệu gỗ, kích thước: thân dài 0,85m, cán dài 1,24m. “Làm ra trong phong trào ông Cai Kinh, ông là một dân tộc Thổ. Ông căm thù giặc nên nổi lên tổ chức nghĩa quân, được nhân dân tham gia và ủng hộ để đánh Pháp vào khoảng năm 1880 tại địa phương ông. Nỏ này ông làm ra trong phong trào trên, đã dùng và chiến thắng nhiều trận. Theo ông Giảng (người dân xóm Cai Kinh, xã Hòa Lạc, huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn): Nỏ này ông tặng lại cho bố ông Trác là nghĩa quân của ông cũ? bố ông Trác đã dùng nỏ này bắn bằng tên thuốc độc diệt 23 binh lính của Pháp, ngoài ra còn dùng nỏ để đi tuần tiễu canh gác bảo vệ chiến khu trong thời kỳ tiền khởi nghĩa. Nỏ này khi ông chết tại trận Văn Miếu thì ông Giảng là tộc họ với ông đem cất giấu”.Ngoài hai hiện vật trên còn có 02 ảnh đen trắng có kích thước 18x24cm chụp: Cờ và Tán của ông Cai Kinh. Tất cả số hiện vật và ảnh trên đều được sưu tầm tại tỉnh Bắc Giang, có dấu của Ty Văn hóa tỉnh do Phó trưởng ty ký ngày 4/7/1958, bên giao là Vũ Lộc, bên nhận là cán bộ Bảo tàng Cách mạng Việt Nam Nguyễn Bá Ngữ.
Nỏ - Ông Cai Kinh dùng để đánh Pháp ở huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn, năm 1880Cùng với số hiện vật, hình ảnh trên hiện phòng Tư liệu- Thư viện của bảo tàng còn lưu trữ các bài viết về cuộc kháng chiến của ông Cai Kinh trên báo Tri Tân (1941-1946) và tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 81, tháng 12/1965. Thông qua các tư liệu trên ta có thể khẳng định rằng cùng với cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1884-1813) do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, ở vùng Bắc Giang - Lạng Sơn còn có một cuộc kháng chiến chống Pháp nữa do Hoàng Đình Kinh (hay còn gọi là Cai Kinh) chỉ huy. Tên của ông còn được đặt cho dãy núi đá dựng đứng, với những núi cao từ 2 đến 300m, nằm trên phía Bắc đồng bằng sông Thương - núi Cai Kinh. Hiện nay ở huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn còn lại rất nhiều di tích chống Pháp của ông. Thân phụ ông tên là Hoàng Đình Khoa, thân mẫu là Trần Thị Nhiễu. Ông bà Khoa sinh ra được ba người con: người thứ nhất là Hoàng Thị Gan, người thứ hai là Hoàng Đình Cử tức Hoàng Đình Kinh, người thứ ba là Hoàng Đình Kiệt sau đổi tên là Hoàng Đình Cương. Nhờ có tiền của và tháo vát nên ông Hoàng Đình Khoa được làm cai tổng Tổng Thuốc Sơn (huyện Hữu Lũng) phụ trách 36 trang trại, nên nhân dân còn gọi là ông Cai Quản. Hoàng Đình Kinh khi nhỏ được đi học chữ Hán, khi bố mất ông được thay làm cai tổng nên còn được gọi là Cai Kinh. Về sau vì có công đánh dẹp thổ phỉ, ông được triều đình thăng tri huyện Hữu Lũng (gồm huyện Hữu Lũng, huyện Bằng Mạc và một số xã huyện Ôn Châu, Lạng Sơn ngày nay). Em ông được thay làm cai tổng. Nhân dân thường gọi ông là huyện Kinh, em là Cai Hai (1).Năm 1882, thực dân Pháp tiến đánh Bắc Kỳ lần thứ hai, chiếm Hà Nội và một số tỉnh; triều đình Huế đầu hàng thực dân Pháp bằng việc ký điều ước 1883, rồi sau đó điều ước 1884. Ông Cai Kinh không chịu theo lệnh triều đình bãi binh chống Pháp mà hưởng ứng lời kêu gọi của một số quan lại chủ chiến các tỉnh như Lã Xuân Oai, Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Thiện Thuật tiếp tục chống Pháp. Năm 1885, khi vua Hàm Nghi xuất chiếu Cần Vương kêu gọi toàn dân kháng chiến, ông tổ chức nghĩa quân chống Pháp ở vùng núi Cai Kinh mãi đến cuối năm 1888 khi ông mất, phong trào mới bị dập tắt.
Dãy núi Cai Kinh ở huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn, nơi nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Hoàng Đình Kinh (1883-1888).Căn cứ của Cai Kinh bao gồm một số xã thuộc phía Bắc huyện Hữu Lũng, từ các xã Chi Lăng, Hòa Lạc đến các xã phía Tây của huyện như Yên Thịnh, Yên Vượng, Yên Sơn ngày nay. Ông dựa chủ yếu vào địa thế hiểm trở của núi Cai Kinh nên xây dựng rất ít thành lũy. Ngày nay chỉ còn lại dấu vết của một chỉ huy sở của nghĩa quân mà thôi. Trong giai đoạn đầu, ông đóng quân ngay tại xã Hòa Lạc và thường trú ở hang Vỉ Ruồi. Nhưng về sau khi địch đã chiếm đóng được những tỉnh thành này, xây dựng nhiều đồn bốt trên đường số 1, thì ông phải rời chỉ huy sở vào thôn Giàng, xã Đằng Yên (nay là các xã Yên Thịnh, Yên Vượng, Yên Sơn) (2). Địa thế ở đấy rất hiểm trở, trước mặt thôn có suối chảy qua. Về mùa nước lớn, con suối tạo thành một hào thiên nhiên che chở cho căn cứ. Sau thôn có một bãi cỏ rộng, để quân lính luyện tập, tiếp theo một dãy núi cao dựng đứng không có đường đi lại. Doanh trại, kho vũ khí và lương thực được xây dựng ở núi Đồng câu, thấp hơn giáp với thôn. Muốn đi vào chỉ huy sở chỉ có một con đường nhỏ, hiểm trở và phải qua nhiều chặng gác bí mật của nghĩa quân. Chính vì có một đội quân được tổ chức chặt chẽ và một căn cứ hiểm yếu cho nên nghĩa quân của ông Cai Kinh đã có thể chống Pháp lâu dài và làm cho địch bị nhiều tổn thất. Cùng sự trợ giúp của thiên nhiên (rừng núi hiểm trở), nghĩa quân của Cai Kinh đã hoạt động mạnh ở một vùng rộng lớn ở Bắc Giang, một phần Thái Nguyên và Lạng Sơn. Nghĩa quân của ông từ căn cứ tỏa ra đánh địch ở các nơi, chủ yếu là công đồn, phục kích những toán quân lẻ hoặc chặn đánh những đoàn binh lương vũ khí của địch và gây cho chúng nhiều tổn thất. Đó là trận đánh của Cai Bình (tướng tâm phúc của Cai Kinh) chống lại toán quân của trung tá Godard ngày 26/12/1885, hay các trận diệt đồn làng Chiễng (nay là xã Mai Sao, Huyện Ôn Châu). Đồn này án ngữ ngã tư con đường từ Lạng Sơn về phủ Lạng Thương và từ Hữu Lũng lên Ba Vang, Na Sầm, Thất Khê. Đồn này được xây dựng ở trong một thung lũng nhỏ, vào một đêm cuối tháng 4/1886 nghĩa quân từ Bằng Mạc kéo ra tập kích tiêu diệt đồn thu được nhiều vũ khí rồi rút lui. Tiếp theo trận vây đồn Than Muội tháng 5/1886. Đây là một đồn lớn của Pháp ở huyện Ôn Châu, nghĩa quân vừa bao vây vừa đánh chặn viện binh của Pháp. Nhưng vì chỉ có vũ khí thô sơ mà quân địch lại có hỏa lực mạnh nên nghĩa quân không tiêu diệt được đồn, phải rút lui sau khi gây tổn thất lớn cho địch (3).Thông qua một số tư liệu khác chúng ta còn biết được nghĩa quân của Cai Kinh còn tham gia hai trận đánh lớn, đó là là các trận:- Trận cầu Quan Âm - Bắc Lệ (tháng 6/1884): Pháp tập trung hơn 1 ngàn lính và hơn 1 ngàn dân phu xuất phát ngày 21/6 tới Bắc Lệ, ngày 22-23/6 tiến về phía cầu Quan Âm, chiều 23/6 vượt qua sông Hóa, định chiếm những vị trí quân Thanh chiếm giữ. Tuy nhiên theo hồi ký của một sĩ quan Pháp thì từ ngày 20-23/6 chúng đã bị chặn đánh lẻ tẻ mà lực lượng chặn đánh chính là của nghĩa quân Cai Kinh. Sở dĩ như vậy bởi vì cầu Quan Âm nằm trên con đường số 1 từ phủ Lạng Thương đi Lạng Sơn. Cầu Quan Âm cũng ở gần xã Hòa Lạc - căn cứ của nghĩa quân Cai Kinh, đồng thời từ cầu Quan Âm xuống đến Bắc Lệ, Cầu Sơn, huyện Hữu Lũng dọc theo đường số 1 nằm trong phạm vi kiểm soát của nghĩa quân. Nghĩa quân của Cai Kinh trang bị bằng cung tên thuốc độc, mã tấu phục sẵn ở khe núi, bụi cây hai bên đường số 1 và ở bên bờ sông Hóa, đồng thời họ còn đào hố cắm chông nứa tẩm thuốc độc ở hai bên đường và ngụy trang rất khéo. Họ đặt những bồ đá lẫn vôi bột, phân súc vật phơi khô tán nhỏ, treo trên những cành cây vệ đường. Khi quân Pháp đi qua nhất là khi chúng rút chạy, nghĩa quân giật dây cho những bồ đó đổ xuống làm địch bị thương và bụi vào mắt. Và khi chúng hoang mang chạy toán loạn sa xuống hố chông thì nghĩa quân mới xông ra tiêu diệt. Nói đến sự kiện này GS. Trần Văn Giàu có viết: “ Bị bao vây ba mặt và bị đe dọa đường rút lui về Hà Nội, Dugenne thất thế, vội vã ra lệnh rút lui. Số quân Pháp và số dân phu bỏ chạy tán loạn, bỏ cả lương thực, ngựa, lừa, đạn dược. Tới chiều, binh đoàn của Pháp mới qua sông Thương, rút về Bắc Lệ với một số đông tử thương, trong đó có 2 quan ba, một bác sĩ và gần một phần mười số quân bị thương nặng nhẹ. Đến được đồn Bắc Lệ, số quân Pháp trên bị nghĩa quân Việt do Tán tương Hoàng Đình Kinh chỉ huy, tổ chức tấn công, bắt được một quan hai. Rồi ông còn phái nghĩa dũng tiến mau ngăn quân Pháp ở núi Thiên Cầu, giết và bắt được một số đối phương giải về doanh của quân Thanh…”(4)- Trận Lạng Sơn và Bắc Ninh (3/1885): Cuộc chiến tranh Trung-Pháp đã chính thức diễn ra ở vùng duyên hải Trung Hoa và các vùng miền biên giới Việt Trung. Với sự vượt trội về vũ khí, quân Pháp đã gây nhiều tổn thất nặng nề cho quân đội nhà Thanh. Nhưng khắp nơi, quân Pháp cũng vấp phải sự kháng chiến kiên cường của nhân dân Trung Quốc, như lão tướng Phùng Tử Tài đã hơn 70 tuổi “lấy khăn quấn đầu, chân đi giày cỏ, cầm mâu cùng hai con dũng cảm tiến lên hàng đầu trong các cuộc phản công liên tiếp quân Pháp ở biên giới Việt Trung từ ngày 21/3 đến ngày 28/3/1885”. Quân Thanh đã thắng lợi lớn ở Lạng Sơn, quân Pháp chết 100 tên, bị thương 200 trong đó có nhiều sĩ quan. Négrier - tướng chỉ huy của quân Pháp trong trận đánh bị thương ở ngực khiến chúng phải bỏ toàn bộ quân trang, quân dụng chạy về xuôi. Trong cuộc chiến trên nghĩa quân Hoàng Đình Kinh đã có sự phối hợp chiến đấu cùng với quân của lão tướng Phùng Tử Tài. Theo tờ điện của Phùng Tử Tài, ngày 10/3 năm Quang Tự thứ 11 (1885) đã viết: “nguyên bọn nghĩa sĩ Hoàng Đình Kinh ở Bắc Ninh nhân số không ít tự lập 5 đại đoàn trung nghĩa xin giúp đỡ tiễu dẹp…ngày 29, bọn y hẹn với chúng ta vòng đường mà tiến lại, cho riêng từng toán khuân lương, cơm, dẫn quân ta đánh đồn Lang Giáp, tường lũy giặc vững chưa vỡ. Các doanh y hạn, hiện đã đình chiến, nhưng bọn nghĩa sĩ này vào sâu trong đất quan trọng, không có quân tiếp ứng tất bị Pháp hại”.Mặc dù sau này cuộc kháng chiến của Hoàng Đình Kinh thất bại, ông bị bắt vào tháng 6 ở thôn Bản Thí, gần biên giới Việt Trung. Cai Kinh “bị xử tử ngày 6 tháng 7 năm 1888 theo lệnh của Phó Công sứ Pháp ở Lạng Sơn” (5), có rất nhiều đánh giá nhưng tựu chung lại chúng ta có thể nhận xét rằng:- Đội nghĩa quân của Hoàng Đình Kinh là một trong những đội quân địa phương chống Pháp khá mạnh ở vùng Bắc Giang - Lạng Sơn. Đội ngũ của nghĩa quân chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm minh. Đội quân này biết dựa vào núi rừng hiểm trở tiến hành chiến tranh du kích vì vậy đã có đóng góp nhất định vào phong trào chống Pháp ở vùng Đông bắc Bắc Kỳ lúc đó.- Cuộc kháng chiến của Hoàng Đình Kinh đã phần nào phản ánh tinh thần đoàn kết chiến đấu của đồng bào miền núi và nhân dân miền xuôi. Đội quân của ông trong chừng mực nhất định đã phối hợp được với những toán quân của Lã Xuân Oai, Nguyễn Thiện Thuật chống Pháp. Đặc biệt, nghĩa quân của ông đã có sự phối hợp chiến đấu với đội quân nhà Thanh với mục đích cùng tiêu diệt kẻ thù chung là thực dân Pháp từ năm 1883-1885.- Tuy vậy cuộc chiến đấu của Hoàng Đình Kinh vẫn mang nặng tính chất địa phương, tự phát; vẫn dừng ở những trận đánh du kích lẻ tẻ và cố thủ ở một vùng núi rừng nhất định vì vậy lực lượng bị hao mòn dần trong quá trình bao vây, khủng bố của địch và cuối cùng bị dập tắt.
Nòng súng hỏa mai - nghĩa quân Cai Kinh dùng để đánh Pháp ở Hữu Lũng, Lạng Sơn năm 1880.2. Nỏ: SĐK 405/ĐM62, chất liệu gỗ, kích thước: thân dài 0,85m, cán dài 1,24m. “Làm ra trong phong trào ông Cai Kinh, ông là một dân tộc Thổ. Ông căm thù giặc nên nổi lên tổ chức nghĩa quân, được nhân dân tham gia và ủng hộ để đánh Pháp vào khoảng năm 1880 tại địa phương ông. Nỏ này ông làm ra trong phong trào trên, đã dùng và chiến thắng nhiều trận. Theo ông Giảng (người dân xóm Cai Kinh, xã Hòa Lạc, huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn): Nỏ này ông tặng lại cho bố ông Trác là nghĩa quân của ông cũ? bố ông Trác đã dùng nỏ này bắn bằng tên thuốc độc diệt 23 binh lính của Pháp, ngoài ra còn dùng nỏ để đi tuần tiễu canh gác bảo vệ chiến khu trong thời kỳ tiền khởi nghĩa. Nỏ này khi ông chết tại trận Văn Miếu thì ông Giảng là tộc họ với ông đem cất giấu”.Ngoài hai hiện vật trên còn có 02 ảnh đen trắng có kích thước 18x24cm chụp: Cờ và Tán của ông Cai Kinh. Tất cả số hiện vật và ảnh trên đều được sưu tầm tại tỉnh Bắc Giang, có dấu của Ty Văn hóa tỉnh do Phó trưởng ty ký ngày 4/7/1958, bên giao là Vũ Lộc, bên nhận là cán bộ Bảo tàng Cách mạng Việt Nam Nguyễn Bá Ngữ.
Nỏ - Ông Cai Kinh dùng để đánh Pháp ở huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn, năm 1880Cùng với số hiện vật, hình ảnh trên hiện phòng Tư liệu- Thư viện của bảo tàng còn lưu trữ các bài viết về cuộc kháng chiến của ông Cai Kinh trên báo Tri Tân (1941-1946) và tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 81, tháng 12/1965. Thông qua các tư liệu trên ta có thể khẳng định rằng cùng với cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1884-1813) do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo, ở vùng Bắc Giang - Lạng Sơn còn có một cuộc kháng chiến chống Pháp nữa do Hoàng Đình Kinh (hay còn gọi là Cai Kinh) chỉ huy. Tên của ông còn được đặt cho dãy núi đá dựng đứng, với những núi cao từ 2 đến 300m, nằm trên phía Bắc đồng bằng sông Thương - núi Cai Kinh. Hiện nay ở huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn còn lại rất nhiều di tích chống Pháp của ông. Thân phụ ông tên là Hoàng Đình Khoa, thân mẫu là Trần Thị Nhiễu. Ông bà Khoa sinh ra được ba người con: người thứ nhất là Hoàng Thị Gan, người thứ hai là Hoàng Đình Cử tức Hoàng Đình Kinh, người thứ ba là Hoàng Đình Kiệt sau đổi tên là Hoàng Đình Cương. Nhờ có tiền của và tháo vát nên ông Hoàng Đình Khoa được làm cai tổng Tổng Thuốc Sơn (huyện Hữu Lũng) phụ trách 36 trang trại, nên nhân dân còn gọi là ông Cai Quản. Hoàng Đình Kinh khi nhỏ được đi học chữ Hán, khi bố mất ông được thay làm cai tổng nên còn được gọi là Cai Kinh. Về sau vì có công đánh dẹp thổ phỉ, ông được triều đình thăng tri huyện Hữu Lũng (gồm huyện Hữu Lũng, huyện Bằng Mạc và một số xã huyện Ôn Châu, Lạng Sơn ngày nay). Em ông được thay làm cai tổng. Nhân dân thường gọi ông là huyện Kinh, em là Cai Hai (1).Năm 1882, thực dân Pháp tiến đánh Bắc Kỳ lần thứ hai, chiếm Hà Nội và một số tỉnh; triều đình Huế đầu hàng thực dân Pháp bằng việc ký điều ước 1883, rồi sau đó điều ước 1884. Ông Cai Kinh không chịu theo lệnh triều đình bãi binh chống Pháp mà hưởng ứng lời kêu gọi của một số quan lại chủ chiến các tỉnh như Lã Xuân Oai, Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Thiện Thuật tiếp tục chống Pháp. Năm 1885, khi vua Hàm Nghi xuất chiếu Cần Vương kêu gọi toàn dân kháng chiến, ông tổ chức nghĩa quân chống Pháp ở vùng núi Cai Kinh mãi đến cuối năm 1888 khi ông mất, phong trào mới bị dập tắt.
Dãy núi Cai Kinh ở huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn, nơi nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Hoàng Đình Kinh (1883-1888).Căn cứ của Cai Kinh bao gồm một số xã thuộc phía Bắc huyện Hữu Lũng, từ các xã Chi Lăng, Hòa Lạc đến các xã phía Tây của huyện như Yên Thịnh, Yên Vượng, Yên Sơn ngày nay. Ông dựa chủ yếu vào địa thế hiểm trở của núi Cai Kinh nên xây dựng rất ít thành lũy. Ngày nay chỉ còn lại dấu vết của một chỉ huy sở của nghĩa quân mà thôi. Trong giai đoạn đầu, ông đóng quân ngay tại xã Hòa Lạc và thường trú ở hang Vỉ Ruồi. Nhưng về sau khi địch đã chiếm đóng được những tỉnh thành này, xây dựng nhiều đồn bốt trên đường số 1, thì ông phải rời chỉ huy sở vào thôn Giàng, xã Đằng Yên (nay là các xã Yên Thịnh, Yên Vượng, Yên Sơn) (2). Địa thế ở đấy rất hiểm trở, trước mặt thôn có suối chảy qua. Về mùa nước lớn, con suối tạo thành một hào thiên nhiên che chở cho căn cứ. Sau thôn có một bãi cỏ rộng, để quân lính luyện tập, tiếp theo một dãy núi cao dựng đứng không có đường đi lại. Doanh trại, kho vũ khí và lương thực được xây dựng ở núi Đồng câu, thấp hơn giáp với thôn. Muốn đi vào chỉ huy sở chỉ có một con đường nhỏ, hiểm trở và phải qua nhiều chặng gác bí mật của nghĩa quân. Chính vì có một đội quân được tổ chức chặt chẽ và một căn cứ hiểm yếu cho nên nghĩa quân của ông Cai Kinh đã có thể chống Pháp lâu dài và làm cho địch bị nhiều tổn thất. Cùng sự trợ giúp của thiên nhiên (rừng núi hiểm trở), nghĩa quân của Cai Kinh đã hoạt động mạnh ở một vùng rộng lớn ở Bắc Giang, một phần Thái Nguyên và Lạng Sơn. Nghĩa quân của ông từ căn cứ tỏa ra đánh địch ở các nơi, chủ yếu là công đồn, phục kích những toán quân lẻ hoặc chặn đánh những đoàn binh lương vũ khí của địch và gây cho chúng nhiều tổn thất. Đó là trận đánh của Cai Bình (tướng tâm phúc của Cai Kinh) chống lại toán quân của trung tá Godard ngày 26/12/1885, hay các trận diệt đồn làng Chiễng (nay là xã Mai Sao, Huyện Ôn Châu). Đồn này án ngữ ngã tư con đường từ Lạng Sơn về phủ Lạng Thương và từ Hữu Lũng lên Ba Vang, Na Sầm, Thất Khê. Đồn này được xây dựng ở trong một thung lũng nhỏ, vào một đêm cuối tháng 4/1886 nghĩa quân từ Bằng Mạc kéo ra tập kích tiêu diệt đồn thu được nhiều vũ khí rồi rút lui. Tiếp theo trận vây đồn Than Muội tháng 5/1886. Đây là một đồn lớn của Pháp ở huyện Ôn Châu, nghĩa quân vừa bao vây vừa đánh chặn viện binh của Pháp. Nhưng vì chỉ có vũ khí thô sơ mà quân địch lại có hỏa lực mạnh nên nghĩa quân không tiêu diệt được đồn, phải rút lui sau khi gây tổn thất lớn cho địch (3).Thông qua một số tư liệu khác chúng ta còn biết được nghĩa quân của Cai Kinh còn tham gia hai trận đánh lớn, đó là là các trận:- Trận cầu Quan Âm - Bắc Lệ (tháng 6/1884): Pháp tập trung hơn 1 ngàn lính và hơn 1 ngàn dân phu xuất phát ngày 21/6 tới Bắc Lệ, ngày 22-23/6 tiến về phía cầu Quan Âm, chiều 23/6 vượt qua sông Hóa, định chiếm những vị trí quân Thanh chiếm giữ. Tuy nhiên theo hồi ký của một sĩ quan Pháp thì từ ngày 20-23/6 chúng đã bị chặn đánh lẻ tẻ mà lực lượng chặn đánh chính là của nghĩa quân Cai Kinh. Sở dĩ như vậy bởi vì cầu Quan Âm nằm trên con đường số 1 từ phủ Lạng Thương đi Lạng Sơn. Cầu Quan Âm cũng ở gần xã Hòa Lạc - căn cứ của nghĩa quân Cai Kinh, đồng thời từ cầu Quan Âm xuống đến Bắc Lệ, Cầu Sơn, huyện Hữu Lũng dọc theo đường số 1 nằm trong phạm vi kiểm soát của nghĩa quân. Nghĩa quân của Cai Kinh trang bị bằng cung tên thuốc độc, mã tấu phục sẵn ở khe núi, bụi cây hai bên đường số 1 và ở bên bờ sông Hóa, đồng thời họ còn đào hố cắm chông nứa tẩm thuốc độc ở hai bên đường và ngụy trang rất khéo. Họ đặt những bồ đá lẫn vôi bột, phân súc vật phơi khô tán nhỏ, treo trên những cành cây vệ đường. Khi quân Pháp đi qua nhất là khi chúng rút chạy, nghĩa quân giật dây cho những bồ đó đổ xuống làm địch bị thương và bụi vào mắt. Và khi chúng hoang mang chạy toán loạn sa xuống hố chông thì nghĩa quân mới xông ra tiêu diệt. Nói đến sự kiện này GS. Trần Văn Giàu có viết: “ Bị bao vây ba mặt và bị đe dọa đường rút lui về Hà Nội, Dugenne thất thế, vội vã ra lệnh rút lui. Số quân Pháp và số dân phu bỏ chạy tán loạn, bỏ cả lương thực, ngựa, lừa, đạn dược. Tới chiều, binh đoàn của Pháp mới qua sông Thương, rút về Bắc Lệ với một số đông tử thương, trong đó có 2 quan ba, một bác sĩ và gần một phần mười số quân bị thương nặng nhẹ. Đến được đồn Bắc Lệ, số quân Pháp trên bị nghĩa quân Việt do Tán tương Hoàng Đình Kinh chỉ huy, tổ chức tấn công, bắt được một quan hai. Rồi ông còn phái nghĩa dũng tiến mau ngăn quân Pháp ở núi Thiên Cầu, giết và bắt được một số đối phương giải về doanh của quân Thanh…”(4)- Trận Lạng Sơn và Bắc Ninh (3/1885): Cuộc chiến tranh Trung-Pháp đã chính thức diễn ra ở vùng duyên hải Trung Hoa và các vùng miền biên giới Việt Trung. Với sự vượt trội về vũ khí, quân Pháp đã gây nhiều tổn thất nặng nề cho quân đội nhà Thanh. Nhưng khắp nơi, quân Pháp cũng vấp phải sự kháng chiến kiên cường của nhân dân Trung Quốc, như lão tướng Phùng Tử Tài đã hơn 70 tuổi “lấy khăn quấn đầu, chân đi giày cỏ, cầm mâu cùng hai con dũng cảm tiến lên hàng đầu trong các cuộc phản công liên tiếp quân Pháp ở biên giới Việt Trung từ ngày 21/3 đến ngày 28/3/1885”. Quân Thanh đã thắng lợi lớn ở Lạng Sơn, quân Pháp chết 100 tên, bị thương 200 trong đó có nhiều sĩ quan. Négrier - tướng chỉ huy của quân Pháp trong trận đánh bị thương ở ngực khiến chúng phải bỏ toàn bộ quân trang, quân dụng chạy về xuôi. Trong cuộc chiến trên nghĩa quân Hoàng Đình Kinh đã có sự phối hợp chiến đấu cùng với quân của lão tướng Phùng Tử Tài. Theo tờ điện của Phùng Tử Tài, ngày 10/3 năm Quang Tự thứ 11 (1885) đã viết: “nguyên bọn nghĩa sĩ Hoàng Đình Kinh ở Bắc Ninh nhân số không ít tự lập 5 đại đoàn trung nghĩa xin giúp đỡ tiễu dẹp…ngày 29, bọn y hẹn với chúng ta vòng đường mà tiến lại, cho riêng từng toán khuân lương, cơm, dẫn quân ta đánh đồn Lang Giáp, tường lũy giặc vững chưa vỡ. Các doanh y hạn, hiện đã đình chiến, nhưng bọn nghĩa sĩ này vào sâu trong đất quan trọng, không có quân tiếp ứng tất bị Pháp hại”.Mặc dù sau này cuộc kháng chiến của Hoàng Đình Kinh thất bại, ông bị bắt vào tháng 6 ở thôn Bản Thí, gần biên giới Việt Trung. Cai Kinh “bị xử tử ngày 6 tháng 7 năm 1888 theo lệnh của Phó Công sứ Pháp ở Lạng Sơn” (5), có rất nhiều đánh giá nhưng tựu chung lại chúng ta có thể nhận xét rằng:- Đội nghĩa quân của Hoàng Đình Kinh là một trong những đội quân địa phương chống Pháp khá mạnh ở vùng Bắc Giang - Lạng Sơn. Đội ngũ của nghĩa quân chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm minh. Đội quân này biết dựa vào núi rừng hiểm trở tiến hành chiến tranh du kích vì vậy đã có đóng góp nhất định vào phong trào chống Pháp ở vùng Đông bắc Bắc Kỳ lúc đó.- Cuộc kháng chiến của Hoàng Đình Kinh đã phần nào phản ánh tinh thần đoàn kết chiến đấu của đồng bào miền núi và nhân dân miền xuôi. Đội quân của ông trong chừng mực nhất định đã phối hợp được với những toán quân của Lã Xuân Oai, Nguyễn Thiện Thuật chống Pháp. Đặc biệt, nghĩa quân của ông đã có sự phối hợp chiến đấu với đội quân nhà Thanh với mục đích cùng tiêu diệt kẻ thù chung là thực dân Pháp từ năm 1883-1885.- Tuy vậy cuộc chiến đấu của Hoàng Đình Kinh vẫn mang nặng tính chất địa phương, tự phát; vẫn dừng ở những trận đánh du kích lẻ tẻ và cố thủ ở một vùng núi rừng nhất định vì vậy lực lượng bị hao mòn dần trong quá trình bao vây, khủng bố của địch và cuối cùng bị dập tắt.


