Bài viết

Tình cảm của Bác Hồ với đồng bào và chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc

Phú Thọ20/01/2026đoàn xã liên sơn, tỉnh phú thọ (đoàn xã liên sơn, tỉnh phú thọ)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ngày 7/5/1954 đã kết thúc 9 năm kháng chiến trường kỳ gian khổ, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đám phán, ký kết Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam.


Bác Hồ đến thăm cán bộ, chiến sỹ miền Nam tập kết tại Hà Nội. Ảnh tư liệu
Theo Hiệp định, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới; miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam tạm thời do quân đội Liên hiệp Pháp và ngụy quyền quản lý, hai năm sau sẽ Hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Lực lượng kháng chiến của ta phải tập kết ra Bắc. Việc tập kết chuyển quân và chuyển giao khu vực được thực hiện trong vòng 300 ngày.

Với tầm nhìn chiến lược, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định tổ chức cuộc dịch chuyển quân - dân lịch sử trên tinh thần “đi hay ở cũng là nhiệm vụ”; “đi vinh quang, ở anh dũng”. Từ các khu vực tập kết 80 ngày ở Hàm Tân (Bình Thuận), Xuyên Mộc (Bà Rịa - Vũng Tàu), 100 ngày ở Cao Lãnh (Đồng Tháp Mười), 200 ngày ở Chắc Băng (Cà Mau) và một số địa phương khác, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, học sinh, con em gia đình miền Nam tập kết ra miền Bắc để học tập, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ cho đất nước sau này.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ đón tiếp cán bộ, chiến sĩ và đồng bào miền Nam tập kết, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức đoàn thể cũng như toàn thể Nhân dân. Ngày 31/8/1954, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Về việc đón tiếp bộ đội, thương binh, một số cán bộ và đồng bào miền Nam ra Bắc”; ngày 18/01/1955, Ban Bí thư Trung ương Đảng họp bàn về công tác giáo dục và đưa ra chủ trương thành lập các trường nội trú dành riêng cho con em cán bộ, bộ đội miền Nam, gọi chung là Trường Học sinh miền Nam…và nhiều quyết sách khác bảo đảm tốt nhất cho cuộc sống của đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc.

Có thể khẳng định, việc đưa cán bộ, chiến sĩ, đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc là một quyết định mang tầm chiến lược, có ý nghĩa lịch sử hết sức to lớn của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đợt chuyển dân - quân này không chỉ là tình cảm, sự chăm lo của Đảng, của Bác với miền Nam mà còn thể hiện những chủ trương, chính sách lớn, quan trọng về quản lý, đãi ngộ, sử dụng và bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ, chiến sĩ để vừa góp phần cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa chuẩn bị lực lượng cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trên cương vị Chủ tịch nước, Bác đã chỉ đạo các cơ quan, đoàn thể chú trọng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào miền Nam tập kết, giúp đồng bào ổn định cuộc sống, an tâm công tác, hòa nhập vào môi trường mới. Trong thư gửi cán bộ miền Nam tập kết (ngày 19/6/1956), Bác căn dặn “Miền Bắc là cái nền, cái gốc của cuộc đấu tranh hoàn thành giải phóng dân tộc, thực hiện thống nhất nước nhà, cho nên mọi việc chúng ta làm ở miền Bắc đều nhằm tăng cường lực lượng của miền Bắc và miền Nam. Vì vậy, các cô các chú hoạt động ở đây cũng như đấu tranh ở miền Nam, tức là đấu tranh cho miền Nam và cho cả nước Việt Nam ta”; ngày 10/5/1958, trong cuộc nói chuyện với cán bộ, đồng bào miền Nam tập kết ở Hà Đông, Người cũng căn dặn “Cán bộ và đồng bào miền Nam ra Bắc tập kết, hẳn ai cũng nhớ tới quê hương. Tình cảm ấy rất chính đáng, nhưng mỗi người chúng ta có hai gia đình: Gia đình riêng, nhỏ và đại gia đình Tổ quốc. Cuộc đấu tranh giành thống nhất đất nước hiện nay của đồng bào miền Nam và miền Bắc cũng là để cho gia đình chúng ta sum họp. Muốn đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, phải ra sức thi đua sản xuất, thực hành tiết kiệm, xây dựng miền Bắc vững mạnh làm nền tảng cho cuộc đấu tranh chính trị, bằng đường lối hòa bình”, “anh chị em cán bộ phải thân ái đoàn kết nhau, tùy khả năng mình giúp đỡ đoàn kết với đồng bào địa phương, nhận rõ lao động, nhất là lao động chân tay là vẻ vang, hăng hái tăng gia sản xuất, thi đua tiết kiệm, chú ý học chính trị, văn hóa”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường xuyên tổ chức các buổi gặp gỡ, lắng nghe tâm tư, chia sẻ nỗi niềm với đồng bào. Bác khẳng định tập kết ra Bắc cũng là nhiệm vụ, là đóng góp quan trọng trong cuộc đấu tranh chung vì sự nghiệp thống nhất đất nước. Những lời động viên của Bác đã giúp đồng bào miền Nam tập kết nguôi ngoai nỗi nhớ quê hương, gia đình, đồng thời củng cố ý chí quyết tâm cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Bên cạnh việc chăm lo đời sống, ăn ở, công việc cho đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định việc bồi dưỡng, giáo dục, đào tạo đồng bào là việc làm vô cùng quan trọng, đặc biệt đối với các em thiếu nhi và học sinh; dự báo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có thể còn kéo dài, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị quyết định tiếp tục đưa con em cán bộ, chiến sĩ miền Nam ra miền Bắc. Hàng chục nghìn con em cán bộ và đồng bào miền Nam đi bộ vượt dãy Trường Sơn ra miền Bắc, ngược đường với các đoàn quân của miền Bắc chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Bác nhấn mạnh: Đây là những nhân tố quan trọng cho sự nghiệp cách mạng sau này.

Trong suốt 21 năm (1954 - 1975), hơn 32.000 học sinh miền Nam đã bằng nhiều phương tiện, cách thức khác nhau ra miền Bắc học tập. Bộ Giáo dục và các bộ, ngành liên quan được giao nhiệm vụ xây dựng những trường nội trú “thuận tiện giao thông, gần Hà Nội, gần Hồ Chủ tịch, gần Chính phủ” dành riêng cho học sinh miền Nam. Đã có 28 trường học sinh miền Nam (tên trường được gọi theo số thứ tự từ 1 đến 28) được thành lập ở các địa phương xung quanh Hà Nội, như: Hà Tây (cũ), Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nam... Ngoài ra, còn có các trại nhi đồng miền Nam, khu học xá ở Quế Lâm, Nam Ninh (Trung Quốc) và hàng nghìn học sinh được gửi đi đào tạo ở các nước xã hội chủ nghĩa khác. Bên cạnh Trường Học sinh miền Nam còn có Trại Nhi đồng miền Nam do bà Trương Thị Sáu (vợ của nhà trí thức cách mạng Nguyễn An Ninh) phụ trách. Trại gồm các cháu từ 3 đến 6 tuổi, đều là con em cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc hoặc vẫn còn đang trực tiếp chiến đấu ở miền Nam.

Trong bối cảnh lúc bấy giờ, mặc dù miền Bắc còn thiếu giáo viên nhưng Bộ Giáo dục và các địa phương đã tuyển chọn những thầy cô với tiêu chuẩn cao từ các trường sư phạm chính quy, phân công về giảng dạy tại các trường học sinh miền Nam; sau này bổ sung thêm giáo viên ngoại ngữ, nhạc, họa được đào tạo ở Trung Quốc, ưu tiên cho những giáo viên người miền Nam. Trường nội trú có hai bộ phận: Các thầy cô giáo dạy học và bộ phận nuôi gồm các anh chị tiếp liệu, tiếp phẩm và các anh chị lo việc nấu nướng. Ngoài ra, còn có bộ phận hành chính, quản trị, y tế. Bên cạnh việc dạy chính khóa, giáo viên còn lo phụ đạo, hướng dẫn học sinh tự học, lao động, văn nghệ, thể dục, thể thao, đi tham quan, cắm trại…Các thầy cô cũng phải tạm xa gia đình, cùng ăn cùng ở, vừa giảng dạy vừa thay người thân chăm lo cho học sinh miền Nam. Trong 21 năm, có hơn 5.000 giáo viên được tuyển để phục vụ công tác đào tạo học sinh miền Nam.

Ngày 01/6/1955, nhân ngày Quốc tế thiếu nhi đầu tiên được tổ chức sau hòa bình lập lại tại miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho “Các cháu và các cán bộ các trường miền Nam”, Người viết: “Bác muốn đi thăm các cháu và các cô, các chú, nhưng vì bận nhiều việc quá chưa đi được”. Trong thư, Người căn dặn các cháu phải thương yêu giúp đỡ nhau, đoàn kết chặt chẽ, yêu lao động, giữ kỷ luật, chớ tự do phóng túng, tự lực cánh sinh trong sinh hoạt hằng ngày và thi đua học tập, thi đua trong mọi việc để trở nên những nhi đồng có tổ chức, có kỷ luật, có sáng kiến. Các cô, chú cán bộ phải thương yêu các cháu như con em ruột thịt của mình, không nên phân biệt các cháu vùng này với các cháu vùng khác. Người nhấn mạnh: “Cháu nào cũng là con em đại gia đình ta, cũng là do Đảng và Chính phủ giao cho các cô, các chú phụ trách nuôi dạy. Sao cho đến ngày nước nhà thống nhất, trở lại quê hương, các cháu và các cô, các chú đều là những người gương mẫu về tư tưởng, đạo đức, cũng như về mọi mặt khác”. Học sinh miền Nam ngày càng trưởng thành, sự quan tâm của Bác ngày càng lớn. Mỗi khi nghe tin một số em ở các trường học sinh miền Nam chưa ngoan, chưa chăm học, còn gây mất đoàn kết, hay đánh nhau, làm ảnh hưởng không tốt đến địa phương, Bác đều trực tiếp chỉ thị cho Ban Thống nhất và Phòng Giáo dục Học sinh miền Nam của Bộ Giáo dục đến tận nơi bàn biện pháp giải quyết “thấu tình đạt lý”.

Hằng năm, trong lịch trình chúc Tết các địa phương, đơn vị, nơi đầu tiên Bác tới là các trường học sinh miền Nam. Bác nói: “Các cháu xa nhà, xa quê. Mong người thân lắm. Để Bác đến thăm cho các cháu đỡ buồn”. Bác còn gợi ý bà con miền Bắc đón các cháu về ăn Tết với gia đình cho các cháu đỡ nhớ nhà, nhớ quê. Với Hải Phòng, có tới 10 trường học sinh miền Nam, được coi là “thủ đô của học sinh miền Nam”, Bác luôn dành thời gian đến thăm các trường trong những lần Bác về thăm thành phố. Ngày 30/5/1957, Bác đến thăm Trường Học sinh miền Nam số 24 và Trường Nhi đồng miền Nam tại Hải Phòng. Khi đến Trường Nhi đồng miền Nam, Bác đề nghị các giáo viên, phụ trách cho các cháu xếp ghế ngồi xung quanh Bác. Bác ân cần thăm hỏi tình hình học tập, sức khỏe của các cháu, chụp ảnh chung và cùng liên hoan với các cháu. Đặc biệt cảm động khi ra về Bác dặn các cán bộ, giáo viên: “Bác để ý thấy có hai ba cháu còn đau mắt, các cô, các chú phải tra thuốc cho các cháu mau lành nhé”. Ngày 01/4/1959, Bác về thăm Trường Học sinh miền Nam số 7, thăm khu vực nhà bếp, nhà ở và nói chuyện với hơn 500 cán bộ, giáo viên và học sinh của trường. Bác căn dặn thầy trò phải đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau, học tập giỏi, lao động giỏi và luôn tiến bộ. Năm 1963, đi cùng Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản và Chính phủ Tiệp Khắc thăm Hải Phòng nhưng Bác vẫn không quên bố trí thời gian đến thăm Trường Học sinh miền Nam số 4.

Với học sinh miền Nam học tại nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường xuyên chăm lo, quan tâm, không chỉ qua những bức điện, bức thư thăm hỏi mà còn cả trong những chuyến thăm trường khi Bác sang nước ngoài công tác. Năm 1957, trên đường đi dự Đại hội 81 Đảng Cộng sản và công nhân Quốc tế họp ở Mátxcơva và dự lễ kỷ niệm 40 năm Cách mạng tháng 10 Nga, Bác ghé vào khu học xá Trung ương tại Nam Ninh, Trung Quốc để thăm cán bộ và học sinh Việt Nam đang học tập. Người căn dặn cán bộ, nhân viên, các thầy cô giáo Việt Nam và chuyên gia nước ngoài cần nỗ lực và cố gắng hơn nữa trong việc nuôi dạy các cháu học sinh miền Nam bởi đây là vốn quý của đồng bào miền Nam và của cách mạng miền Nam. Những năm về sau, vấn đề đoàn kết, bảo vệ của công trong các khu nội trú của học sinh Việt Nam ở nước ngoài không được tốt, Người nhiều lần cử đồng chí Hà Huy Giáp, Thứ trưởng Bộ Giáo dục sang động viên và chỉ bảo cụ thể, căn dặn đồng chí phải có thái độ đúng mực trong cách đối xử và giải quyết vấn đề chính sách đối với các học sinh miền Nam.

Từ năm 1960, số học sinh miền Nam vào các trường đại học ngày càng nhiều và số lượng các trường học sinh miền Nam càng giảm. Thêm vào đó, thế hệ mới học sinh miền Nam ở chiến trường ra học tập ở miền Bắc. Được Bộ Giáo dục báo cáo số lượng học sinh miền Nam ở các trường đại học trong và ngoài nước ngày một đông, Người rất vui mừng. Bác nhắc nhở các cấp, các ngành, các Bộ và các trường đại học và trung học chuyên nghiệp phải dành sự ưu tiên để đào tạo cán bộ khoa học, đặc biệt là hai ngành y tế và sư phạm, cho miền Nam. Ngày 21/10/1964, Bác cùng với Tổng thống nước Cộng hòa Mali Môđibô Câyta thăm trường Đại học sư phạm Hà Nội. Trước khi nói chuyện, Bác đề nghị đồng chí Phạm Huy Thông, Hiệu trưởng nhà trường báo cáo cho Bác về số lượng sinh viên nữ và học sinh miền Nam hiện đang học ở trường, Người hài lòng: “Có 800 các cháu miền Nam, như vậy là rất tốt, dần dần phải thêm nữa. Bởi vì chúng ta phải gắn liền nhiệm vụ ủng hộ miền Nam với công việc xây dựng miền Bắc…Ở đây, cũng như các ngành khác, phải đào tạo cán bộ cho miền Nam, để đến ngày nước nhà thống nhất, các cháu ấy về góp phần xây dựng miền Nam thân yêu”.

Ngày 14/6/1969, mặc dù tình hình sức khỏe kém nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn cho mời đồng chí Nguyễn Phú Soại và Nguyễn Khánh Phương, hai cán bộ của cơ quan đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hà Nội để hỏi về tình hình các cháu học sinh miền Nam vì Người được báo cáo có một số cháu tiến bộ chậm. Người nhắc nhở: Nếu để tình hình này kéo dài thì ba má và gia đình các cháu đang chiến đấu ở miền Nam sẽ kém yên tâm. Bác nêu rõ trách nhiệm phải nuôi dạy các cháu tiến bộ vì bản chất của các cháu rất tốt, các cháu đều là những mầm non của đất nước. Việc dạy dỗ, nuôi dưỡng đòi hỏi phải có lòng thật sự thương yêu các cháu.

Sự quan tâm của Bác đối với đồng bào miền Nam nói chung và đồng bào miền Nam tập kết nói riêng là lời khẳng định đanh thép: Đất nước chỉ tạm thời bị chia cắt về địa lý, nhưng không bao giờ chia cắt được tình cảm, sự gắn kết của dân tộc: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Nỗi niềm đau đáu với miền Nam của Người được thể hiện trong bản Di chúc lịch sử, với niềm mong mỏi: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn. Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta”.

Tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho đồng bào miền Nam nói chung và chiến sĩ, đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc là biểu tượng thiêng liêng của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước. Đáp lại tình cảm, sự tin yêu của Đảng, của Bác và Nhân dân miền Bắc, các thế hệ cán bộ, học sinh miền Nam tập kết đã trưởng thành và góp sức không nhỏ vào công cuộc cách mạng như lời Người nhận xét: “Từ ngày tập kết, các cô các chú đã coi miền Bắc như là gia đình mình, đã khắc phục khó khăn, hăng hái tham gia mọi công tác xây dựng. Người thì ở bộ đội góp phần củng cố quốc phòng. Người thì làm việc ở các cơ quan chính quyền. Người thì tham gia sản xuất nông nghiệp. Người thì công tác ở các xí nghiệp và các công trường. Ai cũng cố gắng làm tròn nhiệm vụ”. Rất nhiều học sinh miền Nam đã trở thành những cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội; giữ vai trò lãnh đạo, quản lý chủ chốt các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và địa phương; là cầu nối, động lực để nhân dân miền Nam, cùng với quân dân cả nước đã chiến đấu anh dũng, kiên cường, làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Đã 70 năm trôi qua nhưng tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đồng bào miền Nam nói chung, cán bộ, chiến sĩ đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc nói riêng vẫn để lại những bài học quý báu cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong hành trang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đó là:

Thứ nhất, phải luôn đặt Nhân dân ở vị trí trung tâm bởi sức mạnh của Nhân dân được tập hợp và phát huy dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng đã, đang và sẽ làm nên những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của Nhân dân. Mục tiêu cao cả của công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và cũng là mục tiêu cụ thể của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước là chăm lo, bảo vệ lợi ích tối cao, đầy đủ, toàn diện của Nhân dân hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thứ hai, thắt chặt, củng cố hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng; cần huy động tối đa khả năng trí tuệ, tài năng sáng tạo và sức dân cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Việc lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của Nhân dân cần trở thành một phần quan trọng trong việc hoạch định, xây dựng chính sách.

Thứ ba, đại đoàn kết toàn dân tộc giữ vị trí đặc biệt quan trọng, nhất quán và xuyên suốt trong đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; trong đó, dân tộc Việt Nam là một, Nam - Bắc thống nhất một nhà là chân lý của chân lý. Chỉ có biết tập hợp, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ Nam chí Bắc mới làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thứ tư, cần có tầm nhìn chiến lược trong “trồng người” và kiên định mục tiêu giáo dục, đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau. Sự chăm lo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh với hệ thống trường học sinh miền Nam cho chúng ta bài học lớn đối với ngành giáo dục; đó là bài học cả hệ thống chính trị, nhà trường, gia đình và xã hội cần cùng chăm sóc, vun trồng cho các thế hệ tương lai của đất nước, “tất cả vì học sinh thân yêu”. Phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ư ́ng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế; chú trọng nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất.

Nhìn lại chặng đường 70 năm qua, nước ta từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá, chia cắt, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh với tinh thần đoàn kết chúng ta đã thống nhất non sông, phát huy tiềm lực, phát triển cơ đồ, khẳng định vị thế và từng bước vững chắc đi lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt sau gần 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu vĩ đại. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Việt Nam đứng trong nhóm 40 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài; có quan hệ ngoại giao với 193 nước; là thành viên tích cực, có trách nhiệm của Liên hợp quốc; xây dựng các mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới và khu vực. Đời sống của 105 triệu dân được cải thiện rõ rệt; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; hoàn thành về đích sớm các mục tiêu thiên niên kỷ. Tiềm lực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh không ngừng nâng cao; tham gia đóng góp tích cực duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Trong những thành tựu đáng tự hào ấy có những công sức đóng góp không nhỏ của đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc trong những năm tháng chiến tranh, những người được thấm nhuần sự quan tâm và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được truyền động lực từ hình ảnh bàn tay đặt lên ngực trái “Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi” của Người.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Tình cảm của Bác Hồ với đồng bào và chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc | Câu chuyện thời hoa lửa