Tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với thương binh, liệt sĩ
Tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với thương binh, liệt sĩ
Trong cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho đất nước của nhân dân ta, có biết bao chiến sỹ cộng sản, quần chúng cách mạng yêu nước đã ngã xuống, hy sinh nơi chiến trường khốc liệt để xây nên giang sơn gấm vóc hôm nay, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của liệt sĩ đã làm cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ…”(1). Trên cương vị là người lãnh đạo tối cao của Đảng, của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn dành thời gian quan tâm, thăm hỏi, động viên các đồng chí thương binh, liệt sĩ cùng gia đình họ. Những nội dung tư tưởng, tình cảm thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho thương binh, liệt sĩ được thể hiện một cách nhất quán, xuyên suốt, cụ thể, thiết thực trong rất nhiều bài nói, bài viết, hành động và việc làm của Người.
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, dù đất nước lại rơi ngay vào cảnh thù trong, giặc ngoài “nghìn cân treo sợi tóc”, Bác đã nghĩ đến việc đền đáp công ơn của những người đã hi sinh máu xương vì nền độc lập, tự do của dân tộc. Trong Thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi ngày 7/11/1946, Người viết: “Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ cảm ơn những liệt sĩ đã hy sinh tính mệnh cho nền tự do, độc lập, thống nhất của nước nhà, hoặc trong thời kỳ cách mạng, hoặc trong thời kỳ kháng chiến, tôi gửi lời chào thân ái đến các gia đình liệt sĩ và tôi nhận các con liệt sĩ làm con nuôi của tôi”(2). Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề xuất phong trào “Đón thương binh về làng” với những việc làm rất cụ thể. Người khuyên các cháu thiếu nhi lập phong trào Trần Quốc Toản để giúp đỡ gia đình bộ đội và thương binh, kêu gọi đồng bào cả nước hãy thể hiện tình cảm thương yêu, trách nhiệm và bổn phận của mình bằng những việc làm thiết thực nhất, như nhịn ăn để giúp đồng bào bị đói và chiến sĩ bị thương…
Mùa đông năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh có sáng kiến phát động phong trào may áo rét tặng chiến sĩ, thương binh, bệnh binh. Chiều ngày 17/11/1946 tại Thủ đô Hà Nội, “Hội giúp binh sĩ bị nạn” kết hợp với “Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam” đã tổ chức Lễ xung phong “Mùa đông binh sĩ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ đã đến dự.
Tại buổi lễ, Bác đã đem chiếc áo len duy nhất của mình để góp vào quỹ vận động “Mùa đông binh sĩ”. Đó là chiếc áo mà Bác đã mặc khi bôn ba ở nước ngoài để hoạt động cách mạng, tìm đường cứu nước. Điều đặc biệt là ngày hôm đó, rất nhiều người dân Hà Nội muốn mua chiếc áo của Bác để ủng hộ cách mạng và làm vật kỷ niệm. Trước nguyện vọng của quần chúng, Ủy ban Vận động “Mùa đông binh sĩ” Trung ương đã tổ chức đấu giá chiếc áo tại Nhà hát Lớn Hà Nội.
Ông Trương Văn Thìn – một chủ cửa hàng bánh ngọt có tiếng thời bấy giờ đã giành được quyền sở hữu chiếc áo với tổng số tiền đấu giá là 3.500 đồng Đông Dương (tương đương gần 300 lượng vàng theo thời giá). Số tiền đã giúp nhiều chiến sĩ vượt qua được cái lạnh của mùa đông năm ấy. Gia đình ông Thìn lưu giữ cẩn thận chiếc áo len quý giá đó của Bác Hồ cho đến ngày 10/9/1969, sau tang lễ Bác, ông bà quyết định đem hiến tặng cho Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam).
Chiếc áo vẫn được bảo quản và lưu giữ tại đây từ đó. Năm 1995, ông Trương Văn Thìn đã được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) trao tặng Huy chương vì sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.
Khi biết tin chiến sĩ Vũ Văn Thành – con trai cụ Vũ Đình Tụng (Bộ trưởng Bộ Thương binh đầu tiên của nước ta từ năm 1946) đã anh dũng hy sinh trong một trận chiến đấu ác liệt ở khu vực Chợ Hôm (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chia buồn. Trong thư có đoạn: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam.…Những thanh niên đó là anh hùng dân tộc. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ” (3). Đây là tình cảm, sự sẻ chia, động viên của Bác đối với tất cả các gia đình trên đất nước Việt Nam có người thân hy sinh trong cuộc kháng chiến.
Ngày 16/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 20/SL quy định chế độ “Hưu bổng thương tật” và “Tiền tuất cho thân nhân tử sĩ” văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sĩ đối với công cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc.
Tháng 6/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn một ngày trong năm làm ngày thương binh toàn quốc để nhân dân có dịp tỏ lòng biết ơn đến thương binh, liệt sĩ. Thực hiện Chỉ thị của Người, một Hội nghị trù bị họp tại xã Phú Minh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và nhất trí lấy ngày 27/7 hàng năm làm ngày “Thương binh toàn quốc”. Ý nghĩa của ngày này được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ trong Thư gửi Ban thường trực tổ chức ngày Thương binh toàn quốc đầu tiên ở Việt Bắc: “Ngày 27/7 là dịp để đồng bào tỏ rõ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh”(4). Từ đó hàng năm cứ vào dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gửi thư, quà thăm hỏi, đi thăm các thương binh, gia đình liệt sĩ và viếng các anh hùng liệt sĩ ở nghĩa trang. Từ tháng 7/1955, Đảng và Nhà nước ta quyết định đổi ngày Thương binh toàn quốc thành ngày Thương binh – Liệt sĩ để thể hiện đầy đủ hơn tình cảm, đạo lý, nghĩa vụ, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước ta và các thế hệ người Việt Nam đối với những người đã cống hiến, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không những đề cao sự cống hiến của thương binh, liệt sĩ mà còn đề cao sự cống hiến của gia đình họ. Cụ Tạ Quang Yên ở Nam Định có 8 người con, trong đó có 6 người con tham gia kháng chiến mà 4 người đã oanh liệt hy sinh vì Tổ quốc.
Nhân ngày Quốc khánh 2/9/1948, Bác đã gửi tặng chiếc áo lụa và có thư thăm cụ Yên, trong thư có đoạn: “Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ gửi lời khen ngợi và tặng cụ mấy chữ: Một nhà trung hiếu/ Muôn thuở thơm danh”. Sau khi hòa bình lập lại, nhằm nhắc con cháu về truyền thống yêu nước và cách mạng của gia đình mình, con trai cụ Yên đã thêu lại những dòng Bác Hồ gửi tặng vào tấm lụa đỏ giữ lại. Những món quà của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy không lớn nhưng vô cùng quý giá, vì đó chính là sự quan tâm, chăm sóc, là tình cảm của Người dành cho thương binh, bệnh binh, là nguồn cổ vũ động viên tinh thần to lớn đối với thương bệnh binh, làm ấm lòng người chiến sĩ.
Ngày 10/10/1954, thủ đô Hà Nội được giải phóng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ, Trung ương Đảng từ chiến khu Việt Bắc trở về Thủ đô sau chín năm kháng chiến anh dũng và gian khổ. Với mong muốn đảm bảo điều kiện làm việc tốt nhất cho Bác và đáp ứng được những nghi lễ ngoại giao
khi Bác đón tiếp khách trong nước, quốc tế, các đồng chí trong Trung ương Đảng, Chính phủ đã mời Bác về ở và làm việc tại Phủ Toàn quyền xưa, nhưng Bác đã khước từ. Bác chọn ngôi nhà nhỏ của một người thợ điện phục vụ Phủ toàn quyền Đông Dương trước đây. Ngôi nhà về mùa đông thì ấm áp, nhưng mùa hè thì nóng bức. Một lần, Bộ Ngoại giao biếu Bác một chiếc điều hòa nhiệt độ. Nhân một hôm Bác đi công tác, anh em phục vụ lắp máy điều hòa vào phòng của Bác. Nhưng khi về nghe báo cáo lại, Bác đã cho gọi các đồng chí phục vụ đến, Người nói:
“Các chú hãy đem chiếc điều hòa này cho quân y viện hoặc trại điều dưỡng thương binh. Hôm trước Bác đến thăm thấy các chú ấy ở nóng lắm. Còn Bác thì chưa cần, Bác ở thế này là được rồi”. Ngay chiều hôm đó, chiếc máy điều hòa nhiệt độ trong phòng của Bác được chuyển đi. Những món quà và tình cảm của Bác đã động viên các đồng chí thương bệnh binh rất nhiều trong cuộc sống, lao động và học tập.
Trong những năm sống và làm việc tại Hà Nội, vào đêm giao thừa Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đi thăm và chúc tết nhiều nơi, nhưng tối 30 Tết Bính Thân năm 1956, Bác chỉ đến thăm duy nhất Trường Thương binh hỏng mắt Hà Nội ở phố Nguyễn Thái Học, Ba Đình. Tại đây, Bác đã nói chuyện thân mật với mọi người, khen ngợi những thành tích công tác, học tập vươn lên của anh em thương binh. Kết thúc buổi nói chuyện, Bác nói: “Tại mái trường này các chú được học chữ, học nghề để tiếp tục phục vụ nhân dân. Như vậy, thương binh tàn nhưng không phế”. Lời động viên của Bác đã trở thành phương châm phấn đấu, rèn luyện của hàng chục nghìn thương, bệnh binh, khích lệ họ khắc phục khó khăn, vượt lên thương tật, bệnh tật, không ngừng phấn đấu, đạt được nhiều thành tích trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhiều đồng chí đã nỗ lực học tập để nâng cao trình độ như anh Đinh Công Cẩn, Vương Nguyên Khoa, Huỳnh Đình Thảo đã tốt nghiệp Đại học Tổng hợp…
Ngày 29/01/1957, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp các đại biểu quân đội, thương binh, quân nhân chuyển ngành có thành tích xuất sắc trong công tác năm 1956 đến chúc Tết Người nhân dịp năm mới Đinh Dậu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biểu dương và căn dặn: “Bộ đội ta là bộ đội nhân dân, bộ đội cách mạng, có truyền thống anh dũng, khắc khổ, kiên nhẫn, cần kiệm, chất phác, việc khó khăn nguy hiểm mấy cũng không sợ, nhất định làm cho kỳ được. Đó là truyền thống, đạo đức, tác phong tốt, phải luôn luôn giữ vững và phát triển. Nếu các cô, các chú nhớ và thực hiện được “đoàn kết, cảnh giác, nâng cao chí khí chiến đấu, truyền thống anh dũng, kiên quyết làm tròn nhiệm vụ” thì quân đội ta bất kỳ thời chiến hay thời bình sẽ là quân đội tất thắng, vô địch” (5). Bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh được diễn ra trong thời điểm đất nước ta đang bị chia cắt làm hai miền Nam – Bắc, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam đang gặp nhiều khó khăn, nhất là thiếu thốn về tiền của, vũ khí đạn dược, chưa đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi những thành tích mà cán bộ, chiến sĩ quân đội ta đạt được trong kháng chiến trường kỳ, gian khổ; khẳng định truyền thống anh dũng, kiên cường, quyết chiến của quân đội. Đồng thời, Người mong muốn: “Mọi quân nhân, dù đang hoạt động trong quân đội, là thương binh hay đã phục viên chuyển sang lĩnh vực công tác khác, hãy phát huy truyền thống tốt đẹp của quân đội anh hùng, ra sức thi đua lập nhiều thành tích trên mọi lĩnh vực hoạt động, xứng đáng với lòng tin yêu của nhân dân Việt Nam”(6). Lời của Người được các đại biểu nghiêm túc tiếp thu, thống nhất nhận thức và hành động; đồng thời, nhanh chóng được tuyên truyền, lan rộng đến các đơn vị quân đội, các tập thể sản xuất và mọi cơ quan, ban ngành trong xã hội, làm dấy lên phong trào làm theo lời Bác Hồ dạy.
Trong lịch sử chiến đấu giành độc lập dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã có những tấm gương hy sinh oanh liệt, để lại cho đời bao nhiêu tiếc thương như nữ anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Đặng Thị Kim, Trần Thị Lý, Nguyễn Thị Hạnh, Lê Thị Riêng, mười cô gái thanh niên xung phong ở Ngã ba Đồng Lộc, nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm, 32 dân công hỏa tuyến trong đó có nhiều chị em gái hy sinh ở Vĩnh Lộc – Bình Chánh trong năm Mậu Thân, các nữ tù chính trị chuồng cọp Côn Đảo… Chị Trần Thị Lý là nữ tù chính trị và là thương binh nặng vì đã từng chịu nhiều cực hình, tra tấn dã man. Chị là một biểu tượng cho tinh hoa của người con gái Việt Nam “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Năm 1956, chị bị bọn tay chân của Diệm bắt đánh đập với những nhục hình dã man. Sau hơn 2 năm giam cầm, tù đầy mà không khai thác được gì, chúng đã vứt chị Lý ra ngoài nhà lao vì tưởng chị đã chết.
Nhưng chị vẫn sống với một sức mạnh lạ kỳ. Sau khi được đưa ra miền Bắc để chữa trị, chị Trần Thị Lý đã vinh dự nhiều lần được gặp Bác Hồ. Nhắc đến tình cảm của Bác dành cho, chị thường bùi ngùi nhớ lại: Mỗi lần vào thăm Bác, Bác thường cho tôi ăn cháo đậu xanh vì tôi không ăn được cơm. Nhiều lúc, Bác dắt tôi đi chơi trong vườn Phủ Chủ tịch. Bác không đưa tôi đi trên sỏi vì Bác biết chân tôi đi dẫm trên sỏi thì ảnh hưởng đến vết thương trên đầu. Tình thương của Bác đối với tôi thật không bờ bến.
Trong thời gian sống và làm việc ở khu Phủ Chủ tịch, vào ngày 27/7 hằng năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều trích một tháng lương Chủ tịch nước của mình tặng các đồng chí thương binh. Từ năm 1947 đến 1969, Người đã ký truy tặng hơn 3.300 Huân chương Chiến công cho cán bộ, chiến sỹ, thương binh, liệt sĩ có thành tích trong việc hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt và nhiều huy hiệu cho các thương binh vượt lên khó khăn và có thành tích.
Những chiếc huy hiệu Bác tặng luôn nằm trên ngực áo của người chiến sĩ trên con đường hành quân, khi ra trận, để mỗi khi nghĩ về Bác, ngắm chiếc huy hiệu cao quý Bác tặng thì dường như có thêm sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ.
Trước lúc đi xa, trong Bản Di chúc lịch sử để lại cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh không quên căn dặn “đền ơn đáp nghĩa”: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình. Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.
Đối với các liệt sĩ ở mỗi địa phương, cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.
Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh, liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương phải giúp đỡ cho họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”(7).
Những quan điểm cơ bản và tấm gương của Hồ Chí Minh trong công tác thương binh, liệt sĩ đã được Đảng và Chính phủ ta vận dụng, kế thừa, phát huy và cụ thể hóa thành nhiều chương trình, chính sách giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ hiện nay. Trong suốt những năm qua, phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến các đối tượng thương binh, thân nhân gia đình liệt sĩ. Các hoạt động “đền ơn đáp nghĩa” ngày càng đi vào chiều sâu và xã hội hóa cao. Các phong trào xây dựng nhà tình nghĩa, Quỹ đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, chăm sóc con liệt sĩ mồ côi, đi tìm hài cốt đồng đội, tu sửa, nâng cấp các nghĩa trang, đài tưởng niệm liệt sĩ… ngày càng thu hút sự tham gia của toàn xã hội trong phạm vi cả nước, đều bắt nguồn từ bản chất tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.



