Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

TÌNH DÂN NHỚ MÃI

Cuối năm 1950, khi được giao nhiệm vụ dẫn một tiểu đội băng rừng ra sát sông Mê Kông tìm bắt liên lạc với đơn vị Việt kiều Thái Lan, người kể chuyện đã trải qua hành trình đầy gian nan giữa rừng sâu, thiếu bản đồ, cạn lương thực và đối mặt nguy cơ lạc hướng. Trong lúc khó khăn nhất, anh tình cờ gặp hai ông cháu người Lào đang trên đường đi dự lễ Bun-thạc-pa-nôn, nhờ biết chút tiếng Lào học được từ những ngày cùng Đội vũ trang tuyên truyền 812 sang hoạt động ở Khăm Muộn và sống gần đơn vị Pa-thét

Lai Châu02/03/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuối năm 1950, tôi được anh Trường Sinh - Trung đoàn trưởng Trung đoàn Trung Lào giao nhiệm vụ dẫn một tiểu đội đi ra sát bờ sông Mê Kông tìm bắt liên lạc với một đơn vị Việt kiều Thái Lan (Phân khu 6) sang giúp bạn xây dựng cơ sở ở vùng giữa tỉnh Khăm Muộn và Sa-va-na-khệt.


Năm đó tôi 24 tuổi, sang Lào được mấy năm, kinh nghiệm thực tế còn ít nhưng khi nhận nhiệm vụ thì thể hiện quyết tâm và hăng hái lên đường ngay. Đi được vài hôm tôi mới chột dạ vì thực ra tôi chỉ nhằm theo hướng Thái Lan cắt rừng mà đi, chứ trong tay không có một tấm bản đồ chỉ dẫn nào cả. Ngay đến người dẫn đường hay thông thuộc địa hình nơi đây cũng không có. Thật là một khó khăn rất lớn. Nhưng sự đã rồi, chúng tôi chỉ còn mỗi một cách là tiếp tục tiến bước chú không còn đường lui.


Lúc này đang là mùa khô. Do vậy mà tốc độ đi của cả tiểu đội khá nhanh. Sau bốn hôm ngày đi đêm nghỉ, cứ nhìn ánh mặt trời mà đi, chúng tôi ước chừng đã đi được khoảng vài ba chục cây số. Nhưng càng đi thì hình như càng chậm lại vì ai nấy đều có vẻ đã thấm mệt, chân rã ra chứ không như mấy hôm đầu. Rừng lại càng rậm hơn, gai góc thêm nhiều, suối khe cũng lắm. Chúng tôi không ai nói gì nhưng vẻ lo ngại đã hiện lên từ ánh mắt. Lương thực cạn dần. Lòng tôi như lửa đốt. Trong tình thế này, không khéo lạc rừng như chơi. Đã không hoàn thành nhiệm vụ lại có thể sẽ gặp nhiều nguy hiểm cho tính mạng anh em trong tiểu đội.


Một buổi sáng, vừa vượt qua một con suối nhỏ thì cậu Nam trong đoàn phát hiện ra hai bóng người vừa thấp thoáng bên kia vạt rừng. Tôi vội cho người bám theo. Chỉ là một ông lão ngoài bảy mươi tuổi và một cô gái còn trẻ lắm. Đoán chắc đây không phải là địch mà chỉ là dân địa phương, chúng tôi vội tiếp cận ngay. Thoạt đầu, ông lão và cô gái có vẻ sợ sệt khi thấy chúng tôi như từ trên trời rơi xuống, nhưng rồi họ lấy lại bình tĩnh ngay khi đoán ra chúng tôi là quân tình nguyện Việt Nam.


Sau khi dò hỏi mới hay đây là hai ông cháu. Họ ở một bản người Lào cách đó vài ngày đường và cũng đang đi về phía biên giới Thái Lan. Thật may tôi biết được một ít tiếng Lào. Khi sang Lào, quãng tháng 10 năm 1949, đơn vị chúng tôi có tên gọi là Đội vũ trang tuyên truyền 812 xuất phát từ xã Sơn Hà, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh, quân số khoảng 40 người do đồng chí Phạm Ngọc Thược - Đại đội phó làm đội trưởng. Sau một thời gian hành quân vượt qua dãy Trường Sơn hùng vĩ thì đến vùng Tha-pay thuộc Mường Nhom Ma-rát tỉnh Khăm Muộn. Đến đây thì gặp đơn vị vũ trang của Pa-thét Lào, do anh Xổm Xắc làm Trung đội trưởng. Gặp nhau tay bắt mặt mừng. Lúc đó, anh Xổm Xắc cũng biết chút ít tiếng Việt, còn tôi bập bõm tiếng Lào. Thời gian được sống gần nhau, hai chúng tôi trở nên thân thiết. Xổm Xắc dạy tôi tiếng Lào, còn tôi dạy anh tiếng Việt. Anh Xổm Xắc sống với bạn bè rất chân thành, đồng cam cộng khổ. Anh dạy tôi hát dân ca Lào:

"Phò mẹ ơi lục khơi ma lẹo, pay âu lậu hạy lục khơi kin... (Bố mẹ ơi con rể đến rồi, đi lấy rượu cho con rể uống..)".

Thế là, cứ mỗi lần đi vào làng tôi lại hát nghêu ngao mấy câu dân ca ấy. Dân làng nghe ai cũng cười ồ cả lên.

Ông lão và cô cháu gái chúng tôi gặp đi dự một lễ hội hàng năm của người Thái có tên là Bun-thạc-pa-nôn, giống như bên Lào có lễ hội té nước. Điều làm tôi rất ngạc nhiên là ngay từ hôm đầu tiên, ông lão đã tỏ ra là người rất dễ gần và quý bộ đội chúng tôi. Tôi như chết đuổi vớ được cọc. Trời giúp chúng tôi rồi. Gặp được người dân địa phương lại biết là đang cùng hướng đi thì còn gì bằng. Cô cháu gái của ông còn rất trẻ, chỉ độ 18, 19 tuổi. Cô có nước da bánh mật, dáng hình thon thả và đặc biệt là đôi mắt đen láy như hút cả trời xanh vào đó. Lúc đầu cô có vẻ rất thẹn thùng. Cũng phải thôi, một cô gái mới lớn bị vây quanh bởi hàng chục thanh niên dạn dày phong sương. Thế nhưng chỉ sau một buổi là chúng tôi bắt chuyện dễ dàng và được cô tặng cho những nụ cười mê đắm.


Chuyện trò rôm rả suốt chặng đường làm cho cái mệt, cái đói vơi hẳn đi. Thời gian có vẻ như không tồn tại, bởi chúng tôi, những gã thanh niên trẻ muốn được gần cô gái lâu hơn nữa. Cũng qua ông lão, tôi được biết chúng tôi đang đi vào vùng đất địch kiểm soát. Ông lão không những không sợ liên quan đến chúng tôi nếu như gặp phải đụng độ mà còn tỏ ra rất vui vẻ và hài lòng khi được giúp chúng tôi. Miệng nói chân đi, chẳng mấy chốc chúng tôi đã đến một cái bản nhỏ với những ngôi nhà nằm rải rác bên sườn núi. Đêm xuống, nhờ ông lão mà chúng tôi bắt chuyện khá nhanh với bà con ở đây. Được biết cơ sở bộ đội ta và Lào đang hoạt động ở vùng này, tôi bỗng thở phào nhẹ nhõm.


Sáng ra, ông lão và cô cháu gái đến chia tay để đi theo hướng khác sang đất Thái. Tôi nắm thật chặt bàn tay ông. Cô cháu gái bẽn lẽn đứng bên, hai má hình như ửng đỏ và đôi mắt chớp chớp lưu luyến...

... Hai năm sau đó, quãng cuối năm 1950 đầu năm 1951, chúng tôi có việc qua làng Na Môn cách đồn Na Nhôm của địch khoảng 3 cây số. Cho quân hạ trại nghỉ trong rừng bên một con suối nhỏ. Tôi vào làng, hỏi đến nhà của ông lý trưởng, rồi đứng dưới cầu thang gọi. Bỗng từ trong nhà xuất hiện một cô gái bước ra, cô đứng nhìn một chút rồi kêu lên đầy vẻ bất ngờ: "Ô... Hóa ra là quan anh! Quan anh thật rồi! Quan anh đi đâu mà mấy năm nay không gặp?". Tôi ngỡ ngàng đứng ngây ra rồi hỏi: "Nhà em ở đây à?".


Hóa ra cô ấy là em gái của ông lý trưởng. Lúc đó, do đồn địch rất gần nên tôi chỉ dám ngồi một lúc rồi đi ngay. Tôi nói với cô gái: "Khi nào ông lý trưởng về, em nói giúp hộ là tối nay ra chỗ bờ suối tôi có việc cần nhờ giúp đỡ". Em gật đầu nhìn tôi với nét mặt rất vui.


Cái việc mà tôi nhờ ông lý trưởng của làng là xin giúp ít lương thực cho đại đội. Mấy hôm nay chúng tôi đã cạn lương thực, thực phẩm. Nhiều hôm lần mò cả đêm dọc hai bên bờ suối mà chỉ kiếm được vài con nhái đem nướng lên, giã nhỏ trộn với ít muối chia cho anh em. Biết trong bản có cơ sở của ta nên tôi cho anh em nghỉ lại và vào bản nhờ giúp đỡ.


Buổi tối hôm đó, y hẹn, ông lý trưởng ra bờ suối gặp tôi và nói: "Buổi chiều, tôi về nhà, cô em gái có nói rằng đêm nay ra bờ suối gặp "quan anh" có việc cần bàn. Rồi ông ta chợt mở túi lấy ra một gói thuốc lá rê, loại thuốc được vấn bằng lá chuối khô buộc túm lại bằng dây, hút rất đậm. Ông bảo là cô em gái ông ta gửi cho tôi.


Tối hôm sau tôi vào bản theo lời hẹn của một người là cơ sở của ta để bàn công việc và được mời ăn cơm ở đó. Hỏi thăm tình hình và ăn uống được một lúc thì thấy cô em gái ông lý trưởng mang một "tip" (như cái giỏ đan bằng tre của ta) lèn đầy xôi và một bát canh đến. Từ nhà ông lý trưởng tới đây phải cách một quãng đường khá xa nên tôi không hiểu vì đâu mà cô gái lại biết tôi ở chỗ này. Một tay cô cầm "tip" xôi, một tay cầm bát canh và rất nhẹ nhàng, cô quỳ xuống từ bậc cửa rồi đi bằng hai đầu gối đến trước mặt tôi lúc đó đang hết sức ngạc nhiên, cô gái khẽ khàng: "Em mời quan anh ăn xôi và canh...". Tôi còn đang lúng túng thì bà mẹ chủ nhà ngồi gần đó đã vội nói: "Con cứ ăn đi... canh ngon lắm đó. Đây là canh Na-phắc-nậu, món canh của người Lào ta đó!". Tôi từ ngạc nhiên rồi cảm động không thốt nên lời, run run đón lấy thức ăn từ tay cô gái. Trao xong thức ăn, cô lại nhẹ nhàng lùi lại và ngồi vào một góc nhà ngắm tôi ăn...


Do công việc phải bí mật hành quân nên tôi gấp rút lên đường vào ngày hôm sau. Tôi không có dịp đến nhà để chia tay người lý trưởng của làng cùng cô em gái. Tôi chỉ biết thầm cảm ơn họ, cũng như những người dân bản tốt bụng đã cưu mang và giúp đỡ chúng tôi. Họ thật sự coi chúng tôi như những người con trong gia đình. Đến khi cả đại đội đã hành quân một quãng, tôi mới giật mình. Hóa ra tôi vẫn chưa biết tên em, ơi cô gái Lào dễ thương, dịu dàng, đôn hậu...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn