Tình đồng đội bắt đầu từ bát nước chè
Tôi nghe câu chuyện này từ cụ Nguyễn Xuân Dinh, cựu chiến binh quê Quỳnh Lưu, Nghệ An, vào một buổi trưa oi ả. Trên chiếc bàn gỗ trước hiên nhà, cụ rót cho tôi bát nước chè xanh còn nóng. Hương chè quê lan nhẹ trong gió. Cụ nâng bát chè, mỉm cười: “Đời lính của tôi, tình đồng đội cũng bắt đầu từ một bát nước chè như thế này.” Rồi cụ kể.

Tôi nghe câu chuyện này từ cụ Nguyễn Xuân Dinh, cựu chiến binh quê Quỳnh Lưu, Nghệ An, vào một buổi trưa oi ả. Trên chiếc bàn gỗ trước hiên nhà, cụ rót cho tôi bát nước chè xanh còn nóng. Hương chè quê lan nhẹ trong gió.
Cụ nâng bát chè, mỉm cười:
“Đời lính của tôi, tình đồng đội cũng bắt đầu từ một bát nước chè như thế này.”
Rồi cụ kể.
Đó là những ngày đầu huấn luyện năm 1971. Đại đội vừa trải qua một buổi tập điều lệnh dưới nắng gió miền Trung. Sân đất đỏ nóng hầm hập, mồ hôi ai cũng ướt đẫm lưng áo. Đến trưa, tân binh về lán trong trạng thái mệt rã rời.
Anh Nguyễn Xuân Dinh lúc ấy còn rất nhút nhát. Mới xa nhà, chưa quen ai, chỉ biết lặng lẽ tháo ba lô rồi ngồi ở góc giường tre. Cơn sốt nhớ nhà âm ỉ trong lòng khiến anh chẳng muốn nói chuyện.
Đúng lúc ấy, một người bước tới.
Đó là Nguyễn Văn Hòa, chàng trai quê Diễn Châu, người đã nhiều lần cùng anh hành quân và tập luyện nhưng chưa thật sự thân.
Hòa cầm trên tay một chiếc ca nhôm bốc khói.
“Uống đi.”
Anh Dinh ngẩng lên:
“Nước gì đấy?”
“Chè xanh. Tôi xin được ở bếp.”
Trong ca chỉ là nước chè loãng, vài lá chè còn nổi lềnh bềnh. Nhưng mùi thơm ngai ngái ấy làm anh chợt nhớ đến ấm chè mẹ thường đun mỗi buổi trưa ở quê.
Anh cầm ca nước, uống một ngụm. Vị chát đầu lưỡi rồi ngọt dần nơi cổ họng.
Cụ cười hiền:
“Lúc đó tự nhiên thấy đỡ nhớ nhà hẳn.”
Hòa ngồi xuống cạnh anh, hỏi rất đơn giản:
“Quê Quỳnh Lưu ở chỗ nào?”
Từ câu hỏi ấy, hai người bắt đầu nói chuyện.
Họ kể cho nhau nghe về quê mình: biển Quỳnh Lưu có sóng lớn thế nào, đồng Diễn Châu rộng ra sao, mùa gặt ở nhà ai cũng phải thức từ tinh mơ, và những đêm mất điện cả xóm ngồi ngoài sân hóng gió.
Nói một lúc, cả hai quên mất mình mới quen nhau chưa đầy nửa tháng.
Chiều hôm đó, đơn vị tiếp tục tập luyện. Anh Dinh bị đau vai vì đeo súng gỗ lâu. Hòa thấy vậy liền bảo:
“Đưa đây tôi chỉnh lại dây cho.”
Một việc rất nhỏ thôi, nhưng từ đó hai người bắt đầu để ý giúp nhau nhiều hơn.
Hành quân thì chờ nhau ở cuối dốc. Ăn cơm thì chia nhau miếng cá. Đêm mưa thì kéo thêm tấm tăng che chỗ võng bị dột.
Cụ kể:
“Hồi ấy chúng tôi nghèo lắm, có gì đâu mà chia. Nhưng chính vì ít nên cái gì chia nhau cũng quý.”
Một lần sau buổi tập bắn, trời nóng như đổ lửa. Cả tiểu đội khát khô cổ. Hòa chạy xuống bếp xin được một ấm chè xanh lớn. Anh không uống trước mà rót từng bát cho từng người.
Tiểu đội trưởng Hậu quê Thanh Chương nhìn rồi cười:
“Thằng Hòa làm chính trị viên được đấy.”
Cả tiểu đội cười ồ lên.
Nhưng từ những bát nước chè ấy, không khí trong tiểu đội khác hẳn. Những chàng trai còn xa lạ bắt đầu gọi nhau bằng tên thân mật, bắt đầu kể chuyện gia đình, chuyện người yêu, chuyện ước mơ sau chiến tranh.
Có đêm hành quân mệt lả, dừng chân bên bìa rừng, Hòa lại nhóm bếp nhỏ, bỏ nắm chè khô vào bi đông nước sôi rồi chuyền tay nhau từng ngụm.
Giữa rừng tối, bát nước chè nóng làm ấm cả bàn tay lẫn lòng người.
Cụ Dinh trầm ngâm:
“Sau này ra chiến trường, có lúc thiếu cơm, thiếu thuốc, nhưng hiếm khi thiếu người san cho nhau ngụm nước.”
Năm 1972, khi đơn vị chuẩn bị hành quân vào Nam, Hòa bị sốt rừng nặng phải ở lại quân y mấy ngày. Trước lúc đi, anh Dinh để lại cho bạn phần chè khô mẹ gửi từ quê.
Hòa cầm gói chè, cười:
“Khỏi sốt tao sẽ pha, lúc gặp lại uống tiếp.”
May mắn, ít lâu sau hai người lại gặp nhau trong cùng đơn vị hành quân Trường Sơn.
Nhiều năm chiến tranh trôi qua, họ cùng đi qua mưa rừng, sốt rét, đói khát và những trận bom ác liệt. Có những đồng đội khác đã nằm lại, còn họ may mắn trở về.
Ngày hòa bình, mỗi lần gặp nhau, việc đầu tiên không phải là nhắc chiến công hay huân chương.
Họ lại đun một ấm chè xanh.
Cụ nâng bát chè trước mặt tôi, ánh mắt ấm áp:
“Người ta hay nói tình đồng đội bắt đầu từ chiến hào. Với tôi, nó bắt đầu từ bát nước chè của một thằng bạn Diễn Châu.”
Tôi lặng nhìn làn khói mỏng bay lên từ bát chè nóng.
Là người sưu tầm lịch sử, tôi hiểu rằng sức mạnh của quân đội không chỉ được tạo nên từ những trận đánh lớn. Nó được tạo nên từ những điều rất bình dị: một bát nước chè giữa trưa nắng, một ngụm nước chuyền tay trong đêm hành quân, một người nhớ phần bạn khi mình còn đói.
Tình đồng đội bắt đầu từ bát nước chè – câu chuyện nhỏ ấy làm tôi tin rằng trong những năm tháng chiến tranh gian khổ nhất, điều giữ cho người lính Việt Nam đứng vững không chỉ là ý chí chiến đấu, mà còn là sự ấm áp của những tấm lòng biết thương nhau như anh em ruột thịt.


