“Tình đồng đội – cội nguồn sức mạnh của Binh chủng Đặc công”
Đoạn văn thể hiện những cảm xúc sâu sắc về lịch sử Binh chủng Đặc công gắn liền với con người – những đồng đội đã cùng sống chết, chiến đấu và hy sinh vì Tổ quốc. Tác giả khẳng định chính con người và tình đồng đội là động lực tạo nên mọi chiến công, làm nên sức mạnh và truyền thống vẻ vang của binh chủng; đồng thời bày tỏ lòng biết ơn, trân trọng đối với các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã góp phần xây dựng và phát triển binh chủng.
Những cảm xúc về lịch sử Binh chủng mà tôi có được để kể cùng bạn đọc trên kia là không tách khỏi cảm xúc của tôi đối với những con người - đồng đội đã từng sống chết có nhau, vui buồn có nhau những khi giáp trận. Bởi không có con người thì làm gì có sự kiện, có cảm xúc, có kỷ niệm tâm đắc? Và không có sự kiện nào vắng bóng con người. Ở đâu và bao giờ con người cũng vẫn là nguyên động lực thúc đẩy mọi biến thiên của lịch sử - xã hội.
Binh chủng đặc công tuổi đời còn rất trẻ mà đã có một dung lượng sự kiện bộn bề với hàng ngàn trận đánh lớn nhỏ, có chỗ đứng xứng đáng của mình trong “trận đánh ba mươi năm”. Điều này nói lên phẩm chất của người chiến sĩ đặc công là rất tốt đẹp: Chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước, sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc, vì lý tưởng của chủ nghĩa xã hội.
Sẽ trở nên vô nghĩa và có tội với lịch sử khi kể về những chiến công đây đó của binh chủng trên các nẻo đường của Tổ quốc trong trận chiến trường kỳ mà không nhớ về, không biết ơn những dồng đội đã ngã xuống, có không ít người trở thành chiến sĩ vô danh, sẵn sàng quên mình khi đối mặt với quân thù. Cho đến bây giờ và chắc chắn còn một thời gian không ngắn, có những chiến công thật hiển hách của những chiến sĩ vô danh, vì một lý do nào đó mà chưa thể viết lên, chưa được ghi vào sử sách.
Tôi tồn tại, lớn lên, đến hôm nay vẫn đứng trong đội ngũ của binh chủng là nhờ có sự hỗ trợ, sự nhắc nhở động viên của bao đồng chí, đồng đội năm xưa đã hợp lực cùng mình vượt qua những thử thách nghiệt ngã có lúc tưởng như không vượt nổi. Không có đóng góp nào, dù chỉ là nhỏ nhoi lại là của riêng mình, mà là kết quả của sự kết tinh, sự gắn bó công sức của đồng đội. Sức mạnh trí tuệ của binh chủng là sức mạnh của những con người ý thức được sự cộng đồng nghĩa vụ, cộng đồng trách nhiệm. Tách ra từng con người riêng lẻ, tuyệt đối hóa cái tôi trước hết là phi thực tế, dẫn tới những sai lầm khó tránh, khôn lường.
Đã có lúc trong tôi, vì vết thương nhỏ nhưng hiểm nghèo khiển tôi tưởng phải giã từ đội ngũ. Nhưng nhờ có đồng đội cưu mang, chăm sóc, động viên, an ủi, tin tôi, dìu tôi cùng họ ra trận, tình đồng đội đã làm thành sức mạnh trong tôi để chiến thắng thương tật, vượt qua khó khăn về tư tưởng, cùng đồng đội tiến bước.
Những thế hệ Bộ tư lệnh cũng là những con người - đồng đội có chỗ đứng xứng đáng trong đài hoa chiến thắng của binh chủng. Các anh đã góp phần đáng kể vào những chiến công, vào bề dày lịch sử của binh chủng. Sự trưởng thành của chúng tôi hôm nay, những bản lĩnh, phong cách vừa có cái chung vừa mang sắc thái riêng mà mỗi chiến sĩ đặc công thu được, không thể tách rời sự đóng góp của các anh. Các anh Nguyễn Chí Điềm, Nguyễn Anh Đệ, Nguyễn Văn Chi, Vũ Chí Đạo, Cao Pha, Nguyễn Đức Trúng, v.v... đã để lại trong tôi những kỷ niệm khó quên về ý chí vươn lên, về hoạt động tư duy quân sự, về tác phong làm việc. Từ những đơn vị khác nhau, môi trường thử thách khác nhau, tư chất và lịch lãm khác nhau, nhưng khi đă về đây, lại có chung một suy nghĩ, một trăn trở, một quyết tâm - làm việc hết mình cho binh chủng mau trưởng thành. Ai trong các anh cững bắt đầu bằng công việc nghiêm túc tìm hiểu chiều sâu tư tưởng, ý nghĩa thực tiễn của danh hiệu mà Bác Hồ đã tặng cho binh chủng: “Đặc công là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải có cô gắng đặc biệt”, để mà yêu mọi trọng trách được giao. Khi tư tưởng lớn của Bác Hồ thấm nhuần trong nhận thức thì mỗi anh lại tìm ra cho binh chủng mình một biện pháp vươn lên, một nỗ lực đi tới.
Đại tá Nguyễn Văn Chi, nguyên phó tư lệnh Quân khu IV 1 người có uy tín ờ Mặt trận Tây Thừa Thiên những năm đánh Mỹ, đã hiểu đặc công qua chỉ đạo tiểu đoàn 3 đặc công do anh Trần Duy Thị làm tiểu đoàn trưởng (nay là đại tá, phó tư lệnh binh chủng) đánh trận Cô Ca Va tháng 2 năm 1969, khi được điều về giữ chức tư lệnh, đã làm việc hết mình cho sự lớn mạnh của binh chủng.
Trung tướng Anh Đệ, nổi tiếng là một đồng chí chỉ huy có tài ở chiến trường đồng bằng Bắc Bộ hồi kháng chiến chống Pháp, một người có bản lĩnh vững vàng và giàu nghị lực, lại có cách vun trồng cho sự lớn mạnh mãi mãi xanh tươi của một binh chủng đầy sức sống bằng việc tập trung chỉ đạo tổng kết lịch sử chiến đấu của binh chủng, tạo ra một cơ sở khoa học để giáo dục truyền thống và chỉ đạo thực tiễn binh chủng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Và nổi lên tất cả là anh Nguyễn Chí Điềm, người tư lệnh đầu tiên của binh chủng.
Anh Nguyễn Chí Điềm - một đồng chí tư lệnh đã gây được tình cảm ưu ái của mọi người ở lòng nhân hậu, trung thực trong quan hệ đối xử; ở tinh thần say mê tận tụy trong công việc. Quê anh ở vùng Đức Thọ (Nghệ Tĩnh) nhưng anh lại gắn bó với mảnh đất cực Nam Trung Bộ - tỉnh Bình Thuận. Sự trưởng thành và những chiến công của anh gắn liền với sự ưu ái, đùm bọn của bà con cô bác tỉnh Bình Thuận. Nhưng cũng chính tại nơi đây đã để lại trong anh một vết thương lòng mãi mãi nhói đau! Ấy là vào giữa năm 1953, chị Nguyễn Thị Liên là vợ anh, một cán bộ của Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh, đã vĩnh viễn xa anh vì trên đường đi công tác không may gặp phải cọp dữ ở một khu rừng Ô-rô nơi đặt căn cứ kháng chiến của tỉnh Bình Thuận.
Anh Nguyễn Chí Điềm có “duyên nợ” với đặc công cũng rất sớm. Đầu năm 1952, ở cương vị tỉnh đội trưởng Bình Thuận, anh đã cho mở lớp huấn luyện kỹ thuật chiến đấu đặc công do ba cán bộ đặc công Đông Nam Bộ ra hướng dẫn. Sau một tháng học tập, anh cùng với các đồng chí cán bộ huấn luyện đặc công tổ chức cho một số học viên xuất sắc thực tập đánh đồn Ngã Hai, một cứ điểm có công sự kiên cố, do một tiểu đoàn Com-măng-đô đóng chốt, cách thị xã Phan Thiết bốn cây số về phía nam, kề ngay đường số 1. Trận thực tập thành công giòn giã, toàn bộ cứ điểm bị san bằng, gây không khí tin tưởng mạnh mẽ trong lực lượng vũ trang, tiếp cho phong trào kháng chiến của tỉnh có thêm khí thế. Sự khích lệ buổi ban đầu ấy như có lần hội thảo truyền thống của binh chủng, anh đã tâm sự trận thắng gây chuyển biến nhận thức mạnh mẽ trong tôi, tôi “say” với lối đánh này và cũng tự hào là Bình Thuận sớm biết phát triển mạnh mẽ hình thức tác chiếc đặc công trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 -1954 với các trận diệt gọn các cứ điểm quan trọng của địch ở Tánh Linh, Lương Sơn, Hương Sơn, góp phần làm phong phú lịch sử hình thành binh chủng đặc công trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp ở mảnh đất tận cùng của Cực Nam Trung Bộ...”.
Lòng say mê ấy được dịp “bung ra” kể từ khi anh được giao trọng trách Tư lệnh Binh chủng (5-1967). Ngay từ buổi đầu nhận chức cho đến phút lâm chung, anh đã dồn hết tâm huyết của mình cho sự nghiệp xây dựng một binh chủng “đặc biệt” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Bao quát mà cụ thể, thấy việc trước mắt nhưng không quên công việc cơ bản, lâu dài: Lo chỉ đạo sát sao phương hướng chiến đấu cho các chiến trường, nhưng anh vẫn tham gia đều đặn các cuộc thảo luận, tổng kết, các đợt diễn tập và thực tập thể nghiệm các vấn đề kỹ thuật, chiến thuật mới nảy sinh từ thực tiễn chiến đấu.
Anh nhỏ con mà chắc khỏe, đi đứng khẩn trương dáng điệu nhanh nhẹn, hoạt bát, trong hoạt động tư duy của anh lúc nào cũng vừa say mê tâm đắc, vừa suy tư trăn trở - lo sao hiểu đầy đủ ý nghĩa danh hiệu “Đặc biệt” mà Bác Hồ tặng cho binh chủng và quán triệt nó vào trong hoạt động xây dựng và chiến đấu của binh chủng...
Nghiêng mình trước hương hồn anh, chúng tôi hứa học tập và noi gương anh - một vị tư lệnh đã thực sự hết mình với binh chủng; đã góp phần xứng đáng vào thành tích chiến đấu của binh chủng, tạo thêm nền móng định hình của binh chủng trong cơ cấu chung của quân đội.
Nếu con người tạo nên sự kiện, thì sự kiện đến lần nó lại là nguyên nhân tạo ra mối quan hệ gắn bó giữa người với người, đan kết thành một chất mới, mang cái tên mộc mạc, dễ thương - tình đồng đội.
Trong cái chung, tình đồng đội trong binh chủng đặc công có những nét riêng, được nảy sinh trong quá trình hoạt động chiến đấu thường là trong không gian hẹp, với số người không nhiều, ở trong điều kiện thật hiểm nghèo. Phải giấu mình, ém quân, lót ổ, phải tiềm nhập điều nghiên, phải luồn sâu hoàn thành nhiệm vụ với yêu cầu thật lớn: Phải đảm nhiệm công việc của cả lực lượng không quân nhưng không có máy bay, của hải quân nhưng không có hạm tàu... Trong những hoàn cảnh nghiệt ngã của cuộc chiến đấu vì mục tiêu chung - giải phóng đất nước, đã tạo nên tình đồng đội của các chiến sĩ đặc công có những gắn bó kỳ lạ, làm thành sức mạnh để chiến thắng kẻ thù, để giúp nhau giải quyết những vướng mắc, những xung đột từ cuộc sống hàng ngày, đưa lại cho nhau một nhận thức mới, một thanh thản và tự hào mới.
Tình đồng đội sẽ tồn tại mãi mãi trong thời gian, cùng binh chủng, cho cả những người đã rời khỏi đội ngũ, sẽ mãi mãi là sức mạnh giúp ta đi tới. Xây dựng và chăm sóc tình đồng đội thiêng liêng đó đã trở thành một truyền thống của binh chủng, là một việc làm không thể thiếu của tất cả chúng ta và các thế hệ kế tiếp.



