TĨNH LẶNG
Biển đảo Tổ quốc được giữ gìn không chỉ bởi những cột mốc chủ quyền sừng sững giữa trùng khơi, mà còn bởi mồ hôi, sức lực và sự bền gan của những người lính âm thầm làm nhiệm vụ nơi đầu sóng. Giữa những năm tháng hậu chiến còn nhiều gian khó, có những con người đã gắn tuổi trẻ của mình với đá ngầm, sóng dữ và lòng biển mặn chát. Cựu chiến binh Nguyễn Khả Thắng là một trong những người lính như thế – lặng lẽ, kiên cường và bền bỉ trên đảo Bạch Long Vỹ trong những năm tháng đầy thử thách của lịch
Tháng 2 năm 1975, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang bước vào chặng cuối cùng đầy cam go, chàng thanh niên Nguyễn Khả Thắng, sinh năm 1958, rời quê biển Sầm Sơn để khoác lên mình màu áo lính. Ở tuổi đời còn rất trẻ, ông bước vào quân ngũ với hành trang là lòng yêu nước mộc mạc và ý thức rõ ràng về trách nhiệm của một người con trước vận mệnh dân tộc.
Sau huấn luyện, ông được biên chế về Đoàn 318 – Vũng Tàu, đơn vị làm nhiệm vụ đặc thù trên hướng biển đảo. Không phải chiến trường rực lửa với tiếng súng dồn dập, nơi ông công tác là đảo Bạch Long Vỹ – một vị trí tiền tiêu giữa Vịnh Bắc Bộ, nơi sóng gió dữ dội quanh năm, điều kiện sinh hoạt và lao động vô cùng khắc nghiệt.
Những năm cuối thập niên 1970, Bạch Long Vỹ còn hoang sơ, thiếu thốn đủ bề. Nước ngọt khan hiếm, vật tư xây dựng phải trông chờ vào tàu tiếp tế, thời tiết thất thường khiến mỗi chuyến ra đảo đều tiềm ẩn hiểm nguy. Trong bối cảnh ấy, nhiệm vụ của người lính công binh như Nguyễn Khả Thắng mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng: đào hào, củng cố công sự, xây dựng hệ thống phòng thủ và trực tiếp lặn biển phục vụ nhiệm vụ quân sự.
Công việc lặn biển trên đảo không chỉ đòi hỏi kỹ thuật mà còn là sự gan dạ và dẻo dai hiếm có. Giữa làn nước mặn lạnh buốt, tầm nhìn hạn chế, dòng chảy phức tạp, mỗi lần lặn xuống là một lần đối mặt với rủi ro. Không ít khi, người lính phải làm việc liên tục nhiều giờ dưới nước, lên bờ trong tình trạng kiệt sức, nhưng vẫn sẵn sàng tiếp tục nhiệm vụ khi có lệnh.
Song song với đó là những ngày đào hào, đắp công sự dưới nắng gió biển khắc nghiệt. Đất đá trên đảo cứng, lẫn san hô, việc đào xới vô cùng vất vả. Mồ hôi hòa cùng nước biển, đôi bàn tay chai sạn dần theo năm tháng, nhưng ý chí thì ngày càng rắn rỏi. Với những người lính trẻ khi ấy, mỗi mét hào đào sâu xuống không chỉ là công việc, mà là một phần trách nhiệm giữ đảo, giữ biển cho Tổ quốc.
Cuộc sống nơi đảo xa cũng đầy thử thách tinh thần. Xa đất liền, xa gia đình, nhiều tháng liền chỉ đối diện với biển trời mênh mông, người lính phải tựa vào nhau để vượt qua nỗi nhớ nhà và sự cô quạnh. Trong những đêm gió lớn, tiếng sóng đập vào ghềnh đá không ngớt, ánh đèn dầu leo lét trong lán trại, những câu chuyện quê hương, những lá thư hiếm hoi trở thành nguồn động viên quý giá giúp họ đứng vững nơi đầu sóng.
Từ năm 1975 đến năm 1981, suốt 6 năm quân ngũ, Nguyễn Khả Thắng đã gắn bó trọn vẹn tuổi trẻ của mình với đảo Bạch Long Vỹ. Không huân chương rực rỡ, không những chiến công được kể bằng lời hoa mỹ, nhưng những đóng góp thầm lặng của ông và đồng đội đã góp phần xây dựng thế trận phòng thủ vững chắc, giữ vững sự hiện diện lâu dài của lực lượng quân đội trên đảo tiền tiêu của Tổ quốc.
Tháng 11 năm 1981, ông xuất ngũ, trở về đời thường, mang theo trong mình ký ức không thể phai mờ về những năm tháng biển đảo. Chiến tranh lùi xa, cuộc sống đổi thay, nhưng dấu ấn của một thời khoác áo lính vẫn âm thầm hiện diện trong dáng đứng, trong nếp nghĩ và trong sự trân trọng đối với hòa bình hôm nay.
Câu chuyện của cựu chiến binh Nguyễn Khả Thắng không chỉ là câu chuyện của riêng một con người, mà còn là lát cắt chân thực về thế hệ lính biển sau ngày đất nước thống nhất – những người đã âm thầm giữ đảo, giữ biển bằng sức lực, kỷ luật và lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc. Đó là những hy sinh lặng lẽ, không ồn ào, nhưng bền bỉ như chính sóng biển Bạch Long Vỹ suốt bao năm không ngừng vỗ vào lịch sử.



