TÌNH NON NƯỚC - NGHĨA ĐỒNG BÀO
Đoạn hồi ký kể về chuyến trở về thăm quê Quế Sơn của tác giả sau khi Hiệp định Genève được ký kết. Sau nhiều năm chiến đấu xa nhà, tác giả đạp xe hơn 400 km từ Bình Định về quê. Tại đây, ông gặp lại gia đình trong hoàn cảnh xúc động: cha đã mất, nhà cửa bị bom tàn phá, anh em và bà con vừa mừng vừa lo trước tình hình chính trị phức tạp khi chính quyền Ngô Đình Diệm chuẩn bị thiết lập bộ máy cai trị ở miền Nam. Tác giả cũng gặp gỡ một số đồng chí được Đảng phân công ở lại hoạt động bí mật, thể hi
Nhờ chiếc xe đạp mà tôi rút ngắn được chặng đường hơn 400km từ huyện Bình Khê, phía tây của tỉnh Bình Định về huyện Quế Sơn - quê tôi, sau 3 ngày rong duổi. Khi đến thị xã Tam Kì, tôi hăm hở tìm đến văn phòng Tỉnh ủy Quảng Nam để thăm các anh trong Tỉnh ủy và chạo tạm biệt để đi tập kết tho tinh thần Hiêp định Giơnevơ, nhưng tôi không gặp được ai. Hỏi ra tôi mới biết: Tỉnh ủy Quảng Nam đã giải tán cách đó 5 ngày và những người trong Tỉnh ủy đã dời chỗ ở nơi khác. Lần đầu tiên trong cuộc đời chiến đấu, từng gặp và trải qua bao nhiêu lần vui, buồn, gian khổ, nhưng lần này tôi thấy lòng mình dâng lên một nỗi buồn khó tả. Suốt trên chặng đường thiên lí, tôi đã dừng chân nhiều nơi để thăm bà con cơ sở mà trong 7 năm qua họ đã giup đỡ tôi nhiều mặt. ở đâu bà con cũng thể hiện một tình cảm vô cùng thắm thết, không thể nảo không bận lòng, như khi từ giã bà con ở Tam Kì, tay bắt mặt mừng mà nước mắt cứ rưng rưng. Và khi về lại quê nhà đến đầu ngõ, tôi đứng trên con đường thân quen một thời tuổi trẻ đã ghi nhiều kỉ niệm, lòng tôi bỗng trào lên niềm cảm xúc như đã có lần tôi viết trong nhật kí của mình:
Quê tôi đất Quế ngày xưa
Quan năm khi nắng khi mưa, dãi dầu
Li Li, khúc cạn khúc sâu
Bên bồi bên lở bể dâu bao lần.
Chỉ cách một hàng cây ven đường ngôi nhà tôi hiện ra trước mắt. Ở đó là những con người ruột thịt thân thiết của tôi. Cha tôi thì đã qua đời từ năm 1947, còn anh Sâm của tôi - một người đồng chí, trong quá khứ, khi những người cùng trang lứa với anh chưa biết cách mạng là gì, anh đã hết lòng che chở bảo bọc, cất giấu tài liệu giúp cho tôi qua mặt được bọn tay sai trong làng để hoạt động cách mạng - giờ anh cũng đã từ biệt để về cõi vĩnh hằng. Anh cả tôi từ trrước đến nay vẫn ở riêng. Ngôi nhà 3 gian từng ấp ủ tình cảm khuya sớm đi về của tôi đã bị bom thù đánh sập một mái, lâu rồi chưa được sửa chữa, cột gỗ lim đen đứng trơ giữa trời, tường vôi trắng đã bám rêu xanh. Sân gạch đỏ mọc đầy cỏ bàn, có gấu. Nhìn ngôi nhà xưa mà lòng tôi thêm chạnh. Nghe tin tôi về, anh Lộc tôi mừng rỡ đến thăm. Nhà tôi đông anh em, nhưng các chị tôi đi lấy chồng xa không có điều kiện để về họp mặt, chỉ có 3 anh em tôi chìm đắm trong niềm vui và nỗi xúc động của cuộc đoàn viên ngắn ngủi. Anh cả tôi là người Nho học nhưng lại ít quan tâm đến thời cuộc chỉ chí thú làm ăn. Anh luôn thể hiện tình cảm của một người anh đúng lúc, đúng nơi - là một con người có trách nhiệm với gia đình và dòng tộc. Mừng tôi về sau 7 năm đi xa anh nói: “Từ nay trở đi tôi cầu mong cho chú khỏe mạnh. ở chiến trường thì cần cảnh giác với hòn tên mũi đạn. Chú cố mà giữ thân chờ ngày đất nước thống nhất trở về!”. Tôi xúc động trước lời của anh cả, tôi chưa đáp lời thì anh Lộc lên tiếng có ý nhắc nhở tôi: “Hôm trước khi chú về, bọn tay sai núp bóng trong xã mình bàn nhau thành lập chính quyền theo quốc gia. Tình hình diễn biến theo chiều hướng xấu, chú nên thu xếp mà đi sớm. Chú về thăm nhà một đêm như vậy là đủ rồi! Anh chị em trong gia đình biết chú còn sống, còn công tác là mừng lắm!”. Về phần tôi, kinh nghiệm công tác 5 năm trong vùng địch hậu đã cho tôi nhận định bản chất của bọn địch rõ ràng. Tôi trả lời anh Lộc: “Nói vậy chứ bọn chúng cũng phải dè chừng sức mạnh của cách mạng. Chiến thắng Điện Biên Phủ và hàng loạt chiến thắng ở miền Nam, trong đó có đơn vị anh em tham gia tiêu diệt binh đoàn GM 100 Korea trên đường 19 An Khê cũng làm cho bọn chúng rúng động. Việc cảnh giác là cần cảnh giác với bọn đảng phái phản động, khi cách mạng mạnh thì chúng nằm im, khi cách mạng gặp khó khăn thì chúng ngóc đầu dậy, trong tương lai bọn này làm đội quân tay sai đánh phá cách mạng, ta cần đề phòng và đối phó với các thủ đoạn của bọn chúng”.
Cuộc gặp lại gia đình thật ngắn ngủi trong bối cảnh tình hình diễn biến phức tạp, tôi lại tạm biệt người thân ra đi. Tôi đạp xe lên huyện tìm đến văn phòng huyện ủy đóng trước đây, được bà con cho biết: “Huyên ủy đã giải tán và đi nơi mô chúng tôi không biết”. Hụt hẫng lần thứ 2, lòng tôi nặng trĩu nỗi nhớ bạn bè, đồng đội. Trên đường trở lại, có người nhận ra tôi ở bộ đội địa phương trước đây, bà con không ngần ngại thổ lộ tâm tư, chen lẫn nỗi lo lắng trăn trở về tương lai của cách mạng trên địa bàn huyện nhà: “Không biết khi Mĩ - Diệm đến đặt ách cai trị trên một vùng đất vốn là ùng tự do của cách mạng, rồi nhân dân và cơ sở sẽ ra sao?”. Tôi không đủ thời gian giải thích thêm về tình hình cách mạng trong tương lai, chỉ biết động viên và khuyên bà con bình tĩnh, giữ vững niềm tin vì Đảng không bao giờ xa dân. Trên đường, tôi quyết định ghé thăm hai đồng chí Ngô Tuận và Trần Huấn, tôi biết hai đồng chí được Đảng phân công ở lại làm cơ sở tổ chức hoạt động bí mật và còn có đồng chí Võ Trọng Hoàng (còn gọi là Bốn Hương) đã lên căn cứ sau đó nên tôi không gặp được. Đồng chí Ngô Tuận nói vói tôi: “Trước sau, những người được Đảng phân công ở lại xin giữ vẹn niềm tin đối với Đảng. Còn thực tế, thi thực hiện phương châm kiên trì, theo dõi hành động của bọn giặc để có đối sách thích hợp. Anh em chúng tôi mong các anh đi sớm trở về, để nếu quân địch đánh phá, ta có lực lượng đánh trả”. Tôi không ngờ đến năm 1962 khi vượt Trường Sơn trở về chiến đấu ở niềm Nam, tôi mới biết hai đồng chí đều đã trải qua cương vị tỉnh ủy viên, bí thư Huyện ủy Quế Sơn và đã bị kẻ thù giết hại một cách dã man. Chúng đã giết và cắt lìa đầu hai đồng chí của chúng ta để uy hiếp tinh thần nhân dân và gây hoang mng cho những cán bộ ta trong vùng bí mật.
Trong chuyến về thăm quê, tôi còn giành thời gian đến thăm cụ Biểu Quát - tên thật là Nguyễn Đắc, một người lớn tuổi trong họ Nguyễn, được dân trong tộc bầu làm đại diện cho tộc họ, quan hệ với tộc họ khác gọi là Biểu Quát. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp cụ Biểu Quát tham gia công tác chấp hành lão thành của xã, con của cụ Biểu Quát là đảng viên được phân công ở lại hợp pháp. Thấy tôi đến thăm, cụ Biểu Quát mừng rỡ và tiếp đón nồng hậu. Cụ hỏi tôi về tình hình cách mạng, chuyển biến sau Hiệp định Giơnevơ. Tôi thật tỉnh chỉ nói theo tình hình của Hiệp định không nói ra ngoàì sự hiểu biết của mình. Cụ Biểu Quát trầm tư nhìn tôi một lát rồi cụ nói: “Chú thiệt tình với cháu, trước sau dân tộc Việt Nam cũng sẽ thống nhất, chú tin tưởng vào đường lối của Đảng Cộng sản, sự lèo lái của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng chú không tin đối phương, vì chúng là kẻ thù trực tiếp. Bị thua trận và lắm mưu mô, rồi đây chúng sẽ không thi hành Hiệp định mà còn quay sang đánh phá cách mạng. Tình hình rồi sẽ xáo trộn ghê gớm đó cháu nghe! Không cách gì hai năm mà thống nhất được nước nhà mô. Kinh nghiệm lịch sử hồi thời phong kiến còn đó: Đàng trong, đàng ngoài chỉ tranh giành quyền lực thống trị nhân dân mà còn kéo dài lâu như vậy. Bây giờ cuộc đấu tranh này là cuộc đấu tranh giữa 2 hệ tư tưởng, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản; giữa dân chủ và độc tài; giữa duy tâm và duy vật thì cuộc đấu tranh này không chỉ có 2 năm là ổn. Cháu nên nghĩ rằng diễn biến ở tương lai là gay gắt, là quyết liệt, là hi sinh gian khổ hơn thời 9 năm đánh Tây, để đừng hồ nghi, cháu mới đủ tỉnh táo đi suốt đên cùng cuộc đấu tranh của dân tộc”. Lắng nghe cụ Biểu Quát phân tích tình hình một cách biện chứng và kết luận của cụ giúp cho tôi nhìn sâu hơn khía cạnh của vấn đề. Tuy nhiên tôi chưa hề đem chuyện giữa cụ và tôi kể lại với ai. Mãi đến năm 1961, tình hình diễn biến rõ ràng, trước khi lên đường về Nam, tôi thổ lộ tâm sự này với người cháu của tôi là Nguyễn Văn Hiền cũng tập kết, để xách định cuộc đấu tranh phía trước vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc là còn gay go, quyết liệt, hi sinh gian khổ, và thời gian phải mất cả 10 lần kí hiệu(1) lúc tiễn đưa nhau đi tập kết chứ không phải hai năm, hay bốn năm như một số người lạc quan sớm lúc bấy giờ…
Đến nay, khi viết lại những dòng hồi ức này, tôi nghiệm ra sự tinh tế, nhạy cảm của nhân dân ta đã đúc kết thành lôgíc lịch sử, đánh giá kẻ thù một cách thực tế và chính xác. Hơn ai hết, nhân dân miền Nam là người chịu nhiều đau khổ, đã dự lường thời gian và chuẩn bị tư thế sẵn sàng cho mục tiêu đấu tranh lâu dài, gian khổ, quyết liệt để giành thắng lợi ngày nay.
Sau 3 ngày ở thăm quê, tôi lại dong ruổi trên chiếc xe đạp theo đường cái quan để trở về trung đoàn. Khi tôi đến nơi, thì trung đoàn 120 bắc Tây Nguyên trước đây trở thành trung đoàn 120 Tây Nguyên. Tất cả các đơn vị người dân tộc trên địa bàn Liên khu 5 và trung đoàn 84 Đaklak thống nhất thành trung đoàn 120 mới. Hai đại đội độc lập 54 và 68 của trung đoàn 120 cũ về gia nhập vào trung đoàn 803 để họp nhất thành sư đoàn 305.
Thế la chỉ trong vòng 30 ngày - kể từ Hiệp định Giơnevơ được kí kết, các đơn vị được lệnh tập trung đã khắc phục gian khổ vượt đường xa, có đơn vị từ ngã 3 biên giới xa xôi đã chấp hành đúng tiêu lệnh thời gian, tập trung về xã Bình Phú thuộc huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định để chỉnh đốn quân ngũ, sắp xếp đội hình. Trong hàng ngũ tinh binh lúc đó có cả các đội vũ trang tuyên truyền trên các hướng của núi rừng Trường Sơn, trang phục của họ còn nguyên màu sắc dân tộc. Anh em gặp nhau mừng mừng, tủi tủi người còn người mất, hỏi thăm nhau mà lệ ngấn lưng tròng, những người con mũ nan dép lốp, đối đến xanh người, đói đến vàng da mà hiên ngang phối hợp chiến trường lập nên chiến công vây đồn, ép quận… Những cán bộ chiến sĩ người dân tộc, những cán bộ chiến sĩ các đơn vị nhiều vùng Tây Nguyên, hay miền tây các tỉnh đang bỡ ngỡ trước niềm vui, quang cảnh rộn ràng trong những ngày đầu hội quân trên cùng một dải đất quê hương, nhưng họ chưa bao giờ đặt chân đên… Các anh em du kích, các em thiếu niên dân tộc, chưa từng xa mái nhà rông, bếp lửa rừng trong đêm, còn rụt rè trong sinh hoạt… đã đổn dồn về đây. Bao nhiêu con người là bấy nhiêu tam trạng: Bâng khuâng, day dứt, nửa đi, nửa ở, nửa muốn về, tình nhà, nợ nước… như dồn nén trong tấc lòng mọi người.
Đầu tháng 8/1954, trung đoàn Tây Nguyên đã tập trung được 3.500 quân của 27 dân tộc anh em. Quân số biên chế thành 3 tiểu đoàn, 1 liên đội và 1 đại đội tăng cường(2).
Sau khi dự mitting và tham gia diễu binh mừng chiến thắng tại huyện Phù Cát ngay 13/10/1954, trung đoàn Tây Nguyên chuyển quân về xã Mĩ Tài và Mĩ chánh huyện Phù Mĩ tỉnh Bình Đinh, và tại đây 2 trung đoàn 84 Đaklak và 120 Tây Nguyên làm lễ sát nhập thống nhất thành trung đoàn 120 mới, trung đoàn chấn hỉnh đội ngũ, trang bị, chuẩn bị xuống tàu đi trong tư thế người chiến thắng, bước lên tàu với vẻ mặt rạng rỡ, phấn khởi trước những tên lính thực dân và bọn tay sai bại trận, họ làm nhiệm vụ trong ban liên hợp đình chiến có mặt tại bến cảng Quy Nhơn. Tôi không thể nào tả hết những hình ảnh diễn ra ở địa điểm trung đoàn đóng quân trước buổi chia tay. Những bà mẹ, người vợ, người yêu suốt mấy năm trường không gặp mặt người thân, nay được tin ngừng bắn mới vượt qua đồn bốt địch ra vùng tự do xuống xuống đến Quy Nhơn mới gặp mặt được thì phải nói lời chia tay. Những câu chuyện tình, những lời ước hẹn, những kỉ niệm trao tay… nước mắt, nụ cười, nỗi ưu tư lo lắng hiện rõ trên từng khuôn mặt gười đi kẻ ở. Tình quê hương, nghĩa vợ chồng, tình non nước, nghĩa đồng bào như chất chứa trong trái tim, ánh mắt, cái siết tai không rời của nhau:
Chiều đưa tiễn muôn ngàn thương nhớ
Tự tay em viết ở tang đầu
Cho dù phải cách xa nhau
Cũng không đổi dạ nào đâu thay lòng(1)
Trải qua 2 ngày làm thủ tục chờ tàu, 17 giờ ngay 19/11/1954, các đơn vị trong trung đoàn được lệnh xuống tàu Kirinki (tàu của Ba Lan). Tàu nhổ neo, từ boong tàu anh em nhìn thấy mẹ cha, anh chị, vợ con và những người thân yêu tên cầu tàu đưa 2 ngón tay vẫy vẫy tiễn đưa - dấu hiệu 2 năm sẽ trở vê theo Hiệp định Giơnevơ, sẽ hiệp thương tổng tuyển cử và đó cũng là n gày tái ngộ những gia đình chia cách hôm nay.
Tặng anh cuốn sổ vừa xong
Con tàu đưa tiễn vượt ngàn trùng dương
Dừa xanh đứng lặng bên đường
Như em gái nhỏ quê hương đợi chờ
Sau 2 ngày 3 đêm tàu vượt sóng gió biển khơi, đến 15h ngày 22/11/1954, tàu Kirinki vào địa phận cửa Hội - một đảo tiền tiêu của tỉnh Nghệ An. Những ghe thuyền trong bến cửa hội đã được chuẩn bị sẵn ra cập mạn đón bộ đội vào bờ. Ngay đêm đó, bộ đội đã “hồi tỉnh” sau những những say sóng và được xem một đêm văn công do đoàn văn công Tổng cục Chính trị biểu diễn. Những bài hát “Giải phóng Điện Biên”, “Hò kéo pháo”, những điệu múa sạp sôi nổi rộn ràng, khi tiết mục Krông chiêng, với những cô gái, chàng trai Tây Nguyên lộng lẫy trong trang phục dân tộc thân thương và gần gũi xuất hiện tên sân khấu càng làm cho bộ đội trung đoàn 120 Tây Nguyên phấn khởi và cảm động vô cùng.
Đêm văn nghệ đi qua, các đoàn thể quân, dân, chính, đảng địa phương đến thăm trung đoàn và trao quà của bác Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch nước cho trung đoàn. Cảm động trước tình cảm của đồng bào và các cấp, cán bộ chiến sĩ trung đoàn quyết tâm học tập và rèn luyện, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ mới để đáp lại sự yêu thương chăm sóc của đồng bào và các cấp chính quyền trên miền Bắc thân yêu.



