Cựu chiến binh

"Tình sử Trang Bình"

"Mình là Nguyễn Thanh Trang sinh năm 1940. Thiếu tá. Nghỉ hưu năm 1989. Hiện ở với bà xã cùng con, cháu tại thôn Tây, xã Điện Thọ, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam...

Phú Thọ14/04/2026Đoàn xã Tân Pheo (Đoàn xã Tân Pheo)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mình có một đề nghị, đồng chí ghi cả số điện thoại của mình, 0932556478, để đồng đội còn sống tiện liên lạc. Nhất là các ông cùng đánh trận Núi Thành với mình đêm hôm ấy, như ông Trần Ngọc Ảnh ở xã Bình Triều (Thăng Bình, Quảng Nam), ông Nguyễn Văn Nho (số 62, phường Đống Đa, TP Đà Nẵng)… Ông nào ít tuổi nhất giờ cũng ngấp nghé thất thập. Đã “cổ lai hy”, thì thông tin nhanh chừng nào tốt chừng đó”. Dừng chuyện, bế thốc bao gạo chừng bốn chục ký từ trên chiếc xe máy xuống đưa thẳng vào bếp giúp vợ xong, ông kéo luôn cả bà ra ngồi ghế cùng chúng tôi. Chỉ tay vào bà, ông cười hóm hỉnh: “Ngoài tôi ra, thì đây là nhân chứng của Tình sử Trang Bình…”.

Vợ chồng ông Nguyễn Thanh Trang, tháng 3-2016.

… Đó là những ngày giữa mùa Xuân năm 1974, ông Trang an dưỡng tại Đoàn 253, gần thôn Đa Đinh, xã An Bình, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Một hôm, có người phụ nữ đến gặp Ban chỉ huy đoàn xin được nhờ một chiến sĩ kể những dẫn chứng về chuyện đánh Mỹ ở miền Nam, để phục vụ cho công tác mà cô đang đảm nhiệm.

Việc chỉ huy đoàn giao nhiệm vụ kể chuyện cho ông Trang là đã “trông giỏ bỏ thóc” - bởi ông trực tiếp chiến đấu nhiều trận, đặc biệt là trận Núi Thành lừng danh. Nhưng cũng chính sự việc này đã làm cho trái tim của ông Trang “không ngủ yên”. Cô gái trạc tuổi đôi mươi, da trắng, tóc đen nhánh. Lúc cất giọng: “Em là Nguyễn Thị Bình, ủy viên Ban chấp hành chi đoàn thôn Đa Đinh” thì đôi mắt to cũng ngước lên nhìn vào mắt ông. Hơn 40 năm rồi, ông vẫn không phai mờ ấn tượng từ cái nhìn của cô gái Tỉnh Đông (tên gọi khác của tỉnh Hải Dương) “giỏi tay cày, tay súng” ấy. Qua cuộc gặp, ông Trang biết người nữ cán bộ đoàn, vì điều kiện gia đình, đã nghỉ học khi đang dở lớp 8, ở nhà lao động giúp đỡ bố mẹ và tham gia các phong trào địa phương, góp phần chống Mỹ, cứu nước.

Ông Trang kể chuyện đánh giặc bằng cảm xúc của người trực tiếp cầm súng ra trận. Chất giọng Quảng Nam hơi nặng, người miền Bắc mới nghe thấy khó hiểu. Đến trận Núi Thành (diễn ra lúc 0 giờ ngày 26-5-1965, ở xã Kỳ Liên, huyện Tam Kỳ, nay thuộc xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, phía tây căn cứ Chu Lai 4km), ông kể sau cùng, có minh họa bằng động tác nên bà Bình nghe đến đâu là ngấm đến đó. Từ vị thế người nghe, dần dà bà như trở thành người “cùng kể chuyện” với những tiểu tiết phụ họa khá phù hợp, tỷ dụ như lòng căm thù và ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc mà bà đã trải nghiệm qua những lần trực chiến đánh máy bay Mỹ ngay trên quê hương An Bình mấy năm trước.

Nghe ông Trang kể về Đại đội bộ binh 2 và 12 chiến sĩ đặc công, thuộc Tiểu đoàn 70 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam, sau 50 phút đã diệt gọn một Đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ, tiêu diệt 139 tên, thu toàn bộ vũ khí..., bà Bình vô cùng cảm phục. Bà hãnh diện thay cho ông - người chiến sĩ phụ trách tiểu đội trưởng, trực tiếp làm nhiệm vụ bảo đảm binh khí kỹ thuật cho 75 cán bộ, chiến sĩ tham gia trận đánh. Đâu phải đơn giản, ngoài 2 khẩu đại liên và 2 khẩu cối 60mm, 3 khẩu trung liên, mỗi người còn mang 10 quả thủ pháo lựu đạn và một khẩu tiểu liên báng gấp. Bà vô cùng thích thú chi tiết: Khi quân ta đang đánh tại trung tâm căn cứ, bất ngờ, một thằng Mỹ cao lớn nhảy từ chỗ khuất ra ôm chặt Đại đội trưởng Vũ Thành Năm. Thấy thế, mũi trưởng đặc công Trần Ngọc Ảnh dùng quả lựu đạn giáng vào đầu tên Mỹ làm nó thất thần. Đại đội trưởng Năm dùng súng ngắn kết liễu nó ngay tức khắc rồi tiếp tục cùng anh em xông xáo diệt địch…

Với những chiến sĩ Quân Giải phóng miền Nam anh hùng và các cô gái đảm đang nơi hậu phương hồi đó, từ cảm phục thực sự đến yêu thương chân thành, là một khoảng cách rất gần. Trái tim mách bảo, bè bạn vun vào, tổ chức quan tâm, gia đình đồng ý, ngày 16-11-1974, tại thôn Đa Đinh, hôn lễ của ông Trang và bà Bình đã diễn ra trong sự trân trọng, thương mến của gia đình, làng xóm và niềm vui tột độ của hai người. Bên chú rể, ngoài đại biểu Đoàn An dưỡng 253, còn có ông Nguyễn Đức Phu, con bác ruột anh Trang, bộ đội phòng không đóng quân ở tỉnh Vĩnh Phú (nay là Vĩnh Phúc)… Tháng 8-1975, ông bà sinh con gái đầu lòng, đặt tên là Nguyễn Thị Minh. Khi cháu được 14 tháng tuổi, ông đưa hai mẹ con về quê Quảng Nam.

Tháng 4-1977, mang bầu cháu thứ hai vừa được 6 tháng, trong niềm vui khôn tả, bà Bình cũng rộn lên những băn khoăn... Gia đình nhà chồng có 3 liệt sĩ. Cụ ông hy sinh năm 1948 lúc đang là Phó chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến xã Điện Tiến (nay là Điện Thọ). Hai anh trai ông Trang hy sinh trong chiến tranh chống Mỹ… Ông Trang công tác ở Tỉnh đội Quảng Nam, quân hàm cấp úy, chủ nhật mới về nhà được. Tình hình kinh tế đất nước lúc đó vô cùng khó khăn. Cái thiếu, cái đói không chừa một ai. Rồi đây, nuôi hai con nhỏ. Lẽ nào lại để mẹ chồng vốn đã gồng lưng gánh nỗi đau không thể nào bù đắp nổi, tuổi đã cao, sức lực không còn bao nhiêu, giờ lại phải rờ rẫm chăm con dâu đẻ và hai đứa cháu "trứng gà trứng vịt”…

Nghĩ vậy, không đợi đến gần ngày “ấp ổ”, bà “đánh điện” gọi ông ngoại các cháu vào đưa mẹ con bà về quê An Bình (Hải Dương)… Ngày qua tháng lại, hậu quả của chế độ kinh tế bao cấp ngày càng nặng nề. Từ quê mẹ, bưng bát cơm 8 phần khoai, hai phần gạo, bà Bình nghĩ đến cuộc sống của mẹ chồng nơi đất Quảng mà ứa nước mắt. “Em nhớ anh và thương mẹ vô cùng. Tình hình khó khăn quá. Ở ngoài này, đã có người nói Ba sao không bằng một sào khoán sản... Liệu anh có thay được phần trách nhiệm của em, chăm sóc mẹ chu đáo không?” - Bà vẫn thầm nói với ông như thế. Mãi đến năm 1988, khi cháu gái thứ hai - Nguyễn Thị Ánh tròn 10 tuổi, ông chuẩn bị nghỉ hưu, bà mới lại đưa các con trở vào quê chồng.

Tôi ngắt ngang câu chuyện, hỏi ông bà: “Thời bình, thường thì vợ chồng xa nhau một tuần đã là lâu, một tháng đã là sốt ruột…, ba năm quế còn có khi thành củi. Thế mà suốt 10 năm ấy, kẻ Bắc, người Nam, tình cảm của ông bà vẫn không hề hấn gì?”. Ông Trang toát ra vẻ “bền bỉ”: “Sự đời nước mắt soi gương / Càng xa cách lắm, càng thương nhớ nhiều. Nếu còn yêu thì chẳng có gì phải lo”. Ông ý nhị nhìn sang bà. Bà cũng cởi mở với chúng tôi: “Sự thể đúng như ông ấy nói đấy. Giờ thỉnh thoảng nghe thanh niên nó hát cái câu gì… Ở hai đầu nỗi nhớ, yêu và thương sâu hơn, tôi thấy đúng quá với hoàn cảnh mình lúc đó. Còn thì, bảo rằng tại sao tôi chịu đựng được và một lòng một dạ hướng về chồng, là cũng bởi ông ấy là chiến sĩ đánh trận Núi Thành, như các bác đã biết rồi đấy! Mà rồi lại có hậu nhé. Năm 1995, chúng tôi sinh cháu thứ ba. Nói thật, lúc đầu tôi định đặt tên cháu là Sáng theo vần của cả nhà là Trang - Bình - Minh - Ánh - Sáng. Nhưng ông ấy bảo, đặt tên con là Nguyễn Đức Hậu. Hiện tại, hai cháu gái đã “chồng nào vợ ấy” cả. Cháu Minh là Hiệu trưởng Trường Tiểu học Điện Thọ. Cháu Ánh buôn bán trên chợ… Nhà nào cũng con cái ngoan ngoãn. Cháu Hậu đang là sinh viên Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội; Tết vừa rồi mang giấy khen về tặng bố mẹ...”.

Chia tay vợ chồng người cựu chiến binh trên mảnh đất Điện Thọ anh hùng, chúng tôi mang theo hình ảnh ngôi nhà có nhiều ánh sáng, rạng rỡ những chứng tích ghi công của gia đình đối với đất nước. Trong đó, 25 tấm bằng khen, giấy khen các loại mà ông Trang nhận được trong 23 năm ông liên tục làm Bí thư chi bộ thôn Tây được đặt ở vị trí khiêm tốn nhất. Các vị trí trang trọng hơn được dành cho những bằng Tổ quốc ghi công, huân chương, huy chương… Trên cao nhất, ở hai bên tấm ảnh Bác Hồ là bằng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng và tấm Huân chương Độc lập hạng ba của cụ Phan Thị Nhạc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn