Người có công giúp đỡ cách mạng

TÌNH YÊU HƠN NỬA THẾ KỶ TỪ KHÓI LỬA CHIẾN TRANH

TÌNH YÊU HƠN NỬA THẾ KỶ TỪ KHÓI LỬA CHIẾN TRANH

Lâm Đồng17/03/2026Cáp Hữu Hiếu (Đoàn cơ sở trường THPT Nguyễn Văn Trỗi)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, người lính Phạm Trung Hải mang trong lòng khát vọng duy nhất là khi non sông thanh bình sẽ trở về quê nhà Quảng Ngãi. Thế nhưng, giữa khói lửa chiến tranh, ông lại bị níu chân nơi đại ngàn Tây nguyên bởi tình yêu kiên định, dũng cảm của cô sơn nữ Gié Triêng.

Từ đó, câu chuyện tình hơn nửa thế kỷ nảy nở giữa rừng già, trở thành minh chứng sống động cho sức mạnh tình yêu và sự gắn kết bền chặt giữa các dân tộc.

ÁNH SÁNG SOI ĐƯỜNG TỪ CÁCH MẠNG

Ngôi nhà nhỏ của cụ Phạm Trung Hải (96 tuổi, ở xã Đăk Ui, tỉnh Quảng Ngãi; trước đây thuộc H.Đăk Hà, Kon Tum) nép mình dưới vườn cà phê xanh mướt. Vách gỗ cũ kỹ, mái nhà đơn sơ nhưng lúc nào cũng ấm áp bởi những buổi đoàn viên, những lần thanh niên địa phương ghé thăm, tri ân gia đình người có công với cách mạng.

Gần 100 tuổi, cụ Hải vẫn minh mẫn dù đôi chân yếu phải chống gậy mỗi khi bước đi. Mái tóc bạc trắng, nụ cười hiền cùng đôi mắt sáng ngời trên gương mặt hằn vết thời gian khiến bất cứ ai gặp cụ cũng thấy gần gũi, thân thương.

Giọng cụ chậm rãi, đôi lúc ngắt quãng, kể lại câu chuyện cuộc đời làm người nghe rưng rưng. Sinh ra trong một gia đình nghèo ở xã Bình Sơn (Quảng Ngãi), tuổi thơ cụ gắn với những tháng ngày đi ở đợ cho địa chủ. Bữa cơm thừa canh cặn, những trận đòn roi khiến cậu bé Phạm Trung Hải gầy gò, ốm yếu.

Cũng trong những ngày chăn trâu cắt cỏ ấy, cậu gặp được những người lính bộ đội Cụ Hồ. Họ ân cần hỏi han, kể chuyện cách mạng, gieo vào tâm hồn non nớt niềm tin về ngày mai tươi sáng. Năm 1945, lúc mới 16 tuổi, chàng trai trẻ Phạm Trung Hải xin gia nhập đội quân khởi nghĩa. Do sức khỏe yếu, chưa đủ tuổi, tổ chức khuyên cậu tạm trở về. Không nản chí, 3 năm sau, chàng trai trở lại và lần này được chấp nhận trở thành du kích xã.

Một năm sau, cụ Hải nhập ngũ, biên chế vào Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 108, Liên khu 5. Từ đó, cụ lăn lộn khắp chiến trường Liên khu 5, từ đồng bằng ven biển Nam Trung bộ đến núi rừng Tây nguyên, đặc biệt là vùng Gia Lai - Kon Tum và miền tây Quảng Ngãi. Năm 1950, cụ vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng.

Sau Hiệp định Genève 1954, cụ Hải tập kết ra Bắc học tập, rồi năm 1960 trở lại chiến trường Kon Tum tiếp tục chiến đấu. Đến năm 1970, cụ giữ chức Huyện đội trưởng H.40 (vùng tây bắc tỉnh Kon Tum cũ). Trong những năm tháng ác liệt ấy, đơn vị thường trú quân trong rừng già, sống nhờ sự chở che của đồng bào. Và cũng nơi núi rừng ấy, cụ gặp định mệnh đời mình.

TRỌN NGHĨA VỢ CHỒNG

Ngày đất nước hòa bình, vợ chồng cụ Hải nhận nhiều huân, huy chương. Đó không chỉ là niềm tự hào, mà còn là sự ghi nhận đóng góp máu xương của họ trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc.

Trước khi đưa vợ về quê, cụ Hải nhiều đêm trăn trở làm sao thưa chuyện với cha mẹ, họ hàng về người bạn đời đặc biệt. Khi ấy, rào cản ngôn ngữ, phong tục giữa hai dân tộc còn lớn. Và đúng như dự đoán, gia đình phản đối. Nhưng rồi, bằng sự khéo léo, đảm đang và chân thành, Y Nảy dần chiếm được cảm tình của mọi người. Người con dâu núi rừng, giỏi việc nước, chu toàn việc nhà, đã khiến gia đình chồng mở lòng.

Ở quê một thời gian, cụ Hải đưa vợ con trở lại Kon Tum tiếp tục công tác. Năm 1980, vợ chồng cụ về hưu, gom góp tiền lương mua rẫy cà phê ở xã Đăk Ui để nuôi con cái ăn học.

Hơn nửa thế kỷ qua, tình cảm của hai người vẫn nguyên vẹn. Họ nuôi dạy 4 người con trưởng thành, học hành giỏi giang, nay đều có công việc ổn định, có người là cán bộ địa phương. Ở tuổi gần đất xa trời, họ sống cùng con cháu trong ngôi nhà nhỏ bình yên như mong ước thuở nào.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn