TỔ CHỨC VƯỢT NGỤC (1)
TỔ CHỨC VƯỢT NGỤC
Dưới sự lãnh đạo của Ban Đại diện, tù nhân tổ chức nhiều cuộc đấu tranh giành thắng lơi như: đòi tư tổ chức nấu ăn (trước đây địch cho nhà thầu nấu, bị chúng bớt xén nên không đủ tiêu chuẩn), đòi cung cấp thêm lương thực, thực phẩm có chất lượng hơn, đòi được trồng rau cải thiện đời sống đồng thời nhằm cải thiện địa hình, chuẩn bị cho những cuộc vượt ngục về sau, đòi được thăm nuôi để liên lạc với gia đình, nắm tình hình bên ngoài, đòi cung cấp thuốc men để trị bệnh, đòi cho học văn hóa, tổ chức văn nghệ vui chơi thể thao và cho tấm biển mỗi tuần hai đến ba lần.
Ban Đại diện tổ chức cho anh em vượt ngục trở về với cách mạng, trong đó có hai cuộc vượt ngục lớn, thoát được 20 người và một số cuộc vượt ngục nhỏ, lẻ tẻ vài người, cụ thể như sau:
Cuộc vượt ngục ngày 19-2-1956 có 9 người trốn thoát, kết quả cuộc vượt ngục được nêu khá rõ tại Công điện số 1081/Cab/Mil ngày 20-2-1956, của Quận trưởng Phú Quốc gửi Tòa Đại biểu Chính phủ Nam Việt: “Thừa lúc máy đèn hư có 9 tù nhân thuộc Trại Huấn chính Phú Quốc đã trốn thoát vào lúc 3 giờ khuya, họ tên dưới đây:
Trần Văn Ba (tự Canh), sanh năm 1928, tại Mỹ Long, Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho.
Đặng Văn De, sanh 1919 tại Trà Ôn, Cần Thơ.
Đỗ Ngọc Bình, sanh 1933 tại Trương Hai, Hà Đông, Bắc Việt.
Nguyễn Ngọc Minh, sanh 1924, tại Lục Diên, Hưng Yên. Nguyễn Văn Hai (Tư Đen), sanh 1925, tại Hiệp Mỹ, Trà Vinh.
Việt. Lê Văn Dung, sanh 1920, tại Hò Phú, Thanh Hòa, Bắc
Phạm Văn Khỏe, sanh 1932 tại An Hậu, Vĩnh Long
Nguyễn Thế Nghiêm (tự Nguyên).
Nguyễn Ngọc Thanh Cao (tự Tựa), sanh 1932 tại Lê Môn, Thanh Hóa).
Cuộc vượt ngục ngày 3-9-1956 thành công lớn, 11 người vượt ngục trốn thoát nhờ được tổ chức nghiên cứu kỹ tình hình canh gác, bố phòng của địch và nắm địa hình tốt. Nhân kỷ niệm Quốc khánh (2-9-1956), tù nhân tổ chức biểu diễn văn nghệ vào đêm 3-9-1956, nhằm tập hợp lính ngụy vào một nơi, làm cho chúng lơ là mất cảnh giác khi canh gác để vượt ngục, sân khấu biểu diễn được dựng ngoài trời, gắn với khu gia binh cho vợ con lính ngụy vào xem, đống thời cũng xa nơi anh em vượt ngục trong đó có anh Nguyễn Văn Thanh (Mai Thanh), Phạm Văn Khỏe và một số anh em thông thạo việc cắt dây kẽm gai. Đúng 21 giờ đêm ngày 3-9-1956, trong lúc đội văn nghệ đang biểu diễn tiết mục hay nhất, không khí diễn ra sôi nổi thì trong trại giam anh em bí mật vượt ngục.
11 người thoát ra và ba ngày sau về đến căn cứ gặp được đồng chí Lâm Kiên Trì, lúc đó là Bí thư Huyện ủy Phú Quốc. Đồng chí Mai Thanh và Lâm Kiên Trì về đất liền bắt liên lạc với Tỉnh ủy. Các đồng chí khác được phân công ở lại tăng cường cho lực lượng cách mạng ở Phú Quốc.
Trong tài liệu của địch ghi lại tên của 11 người gồm: Lý Kim Sáng, sanh 1926 tại Cao Lãnh, Sa Đéc; Lê Duy Truyền, sanh 1924 tại An Nguyên, Hà Tĩnh; Nguyễn Văn Bài (tự Ke), sanh 1928 tại Tân Nông, Sa Đéc; Lên Văn Khá, sanh 1913 tại Tân Đông (Sa Đéc); Trần Văn Ba, tự Cảnh, sanh 1928 tại Mỹ Lòng, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho; Lê Văn Tươi, tự Thanh, sanh 1919 tại làng An Thới, Bến Tre; Trần Văn Sung, tự Tân Thiên, sanh 1920 tại Vĩnh Lợi, Gia Định; Phạm Văn Khỏe, sanh 1920 tại Long Châu, Vĩnh Long; Võ Văn Thân, sanh 1926 tại Hiệp Lý, Trà Vinh; Nguyễn Văn Thanh (tự Mười Bửu, Luận, Lộc, Thọ), sanh 1921 tại Chu Ngạn, Trà Vinh; Nguyễn Văn Hai, tự Đen, sanh 1925 tại Hiệp Lý, quận Chu Ngạn, Trà Vinh)
Đặc biệt, cuộc vượt ngục ngày 3-9-1956 đã làm cho nội bộ của địch xáo trộn. Chúng đổ lỗi cho nhau: tên Đại úy Huỳnh Văn Ở (Chỉ huy trưởng Trại Huấn chính Cây Dừa), Đại úy Nguyễn Văn Kỉnh (nguyên Chỉ huy trưởng Trại Huấn chính vừa bàn giao cho Thiếu tá Tạ Văn Kiệt) và Thiếu tá Tạ Văn Kiệt. Cuối cùng chúng quy trách nhiệm cho tên Nguyễn Văn Kỉnh.
Trong lúc nội bộ địch đang lộn xộn, Ban Đại diện tiếp tục tổ chức cho anh em vượt ngục. Nhưng cuộc vượt ngục vào lúc 22 giờ 15 phút ngày 5-9-1956 của 30 tù nhân đã bị địch phát hiện. Chúng nổ súng giết chết anh Nguyễn Văn Ty (quê Biên Hòa, Đồng Nai), còn những người khác bị bắt lại. Bản văn số 03/MTHC/PQ/CD ngày 7-9-1956 do tên Thiếu tá Quận trưởng Tạ Văn Kiệt ký và gửi cho Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ ghi như sau:
“Vào lúc 22 giờ 15 phút ngày 5-9-1956. Một số tù nhân Trại Huấn chính Cây Dừa độ 30 người toan phá rào tẩu thoát nhưng vô hiệu quả. Binh sĩ canh phòng cho nổ súng và kết quả một tù nhân bị thương".
- Cuộc vượt ngục ngày 28-8-1956 diễn ra nhân lúc mất điện. Các anh Trình Viết Lưu và Trần Thanh Kim Thanh đã vượt ngục. Cuộc vượt ngục này được bọn địch ghi trong Phiếu trình của Đại biểu Chính phủ Nam Việt gửi Chưởng lý Văn phòng Ngoại vụ và Đại tá Giám đốc Bảo an Nam Việt ngày 29-8-1956.
Sau nhiều lần tù nhân tổ chức vượt ngục, ngày 14-9-1956, Bộ trưởng Bộ Nội vụ của địch đã tổ chức một phái đoàn ra Phú Quốc điều tra Trại Huấn chính Cây Dừa gồm: Hồ Bảo Lộc, Đại biểu Chính phủ Nam Việt; Đào Xuân Dung, Chánh sự vụ Nha Chính trị Bộ Nội vụ; Đại tá Trần Vĩnh Đắc, Giám đốc Nha Bảo an; Nguyễn Công Thiên, Giám đốc Nha Chính trị Nam Việt: Trần Bá Thành, Giám đốc Nha Cảnh sát và Công an Nam Việt: Vũ Thu Tinh. Giám đốc Nha Thông tin Nam Việt; Đại úy Nguyễn Văn Chao, Canh võ phòng Tòa Đại biểu Chính phủ Nam Việt: Lưu Văn Trù, Bí thư, Đại biểu Chính phủ Nam Việt; Nguyễn Văn Loát, Biên tập viên Nha Công an Nam Việt và Nguyễn Văn Đính, Biên tập viên Nha Công an Nam Việt.
Sau chuyến đi đến Phú Quốc trên, ngày 19-10-1956, địch bắt đầu di chuyển 109 tù nhân gồm 70 người lớn tuổi và bị bệnh tật, cùng 39 người không ký vào bản kiến nghị ngày 20-7-1956 đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước về Sài Gòn.
Đến tháng 3-1957, địch tiếp tục chở tất cả tù nhân còn lại, trong đó một số được đưa ra Côn Đảo một số đưa về đất liền, Trại Huấn chính Cây Dừa chấm dứt hoạt động.
Ngày 16-12-1964, Bộ Nội vụ chính quyền Sài Gòn ra Phúc trình đổi quận Phú Quốc thành tỉnh để có đủ điều kiện giải quyết các vấn đề quân sự. Họ cho rằng khi thành lập tỉnh riêng, Phú Quốc sẽ được tăng cường quân số để bình định lãnh thổ và có thể sử dụng lực lượng tổng trù bị để mở các cuộc hành quân vào các mật khu của ta, chặn đường tiếp tế của ta vào Cà Mau qua hướng Campuchia.
Chính quyền ngụy Sài Gòn cũng thể hiện rõ ý đồ của Bộ Nội vụ địch, sẽ chỉ thị Tổng Nha Cảnh sát nghiên cứu thành lập một trung tâm cải huấn lớn tại trại Dương Đông để tập trung các phần tử an trí hoặc lưu đày... Và khoảng hai năm sau, kế hoạch này đã được thực hiện, Trại giam tù binh Cộng sản Việt Nam đã được xây dựng tại Phú Quốc vào cuối năm 1966. Trại giam chính thức được đưa vào hoạt động ngày 6-7-1967 và tồn tại đến tháng 3 năm 1973.


