Tô Hiệu - Nhà cách mạng lỗi lạc
Nhà cách mạng kiên trung quê Hưng Yên, khi bị giam cầm vẫn xây dựng Đảng bộ và huấn luyện quân sự, chính trị cho bạn tù

Nhà cách mạng kiên trung Tô Hiệu (1912-1944) sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo có truyền thống yêu nước tại thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang (cũ), nay là xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên; là con út trong gia đình. Ông sớm được hun đúc tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh từ truyền thống quê hương và những giá trị tốt đẹp của gia đình.
Theo các tư liệu lịch sử, ông là đời thứ 11 của cụ Thủy tổ Minh Biện, hiệu Đạo Khoan, từng là giám sinh Trường Quốc Tử Giám dưới triều Hậu Lê.
Truyền thống yêu nước của gia đình Tô Hiệu được hun đúc qua nhiều thế hệ. Ông nội ông là cụ Tô Ngọc Nữu, từng được bổ nhiệm giữ chức Quyền Đốc học Nam Định. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, cụ thể hiện thái độ bất hợp tác với chính quyền thuộc địa, từ quan trở về quê mở lớp dạy học, truyền bá tri thức cho nhân dân.
Ông ngoại của Tô Hiệu là cụ Ngô Quang Huy, nguyên Đốc học Bắc Ninh, đồng thời là một thủ lĩnh có uy tín trong phong trào khởi nghĩa Bãi Sậy chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX. Thân mẫu của ông là bà Ngô Thị Lý - con gái cụ Ngô Quang Huy, người phụ nữ giàu lòng yêu nước, quả cảm, được nhân dân địa phương kính trọng vì đã có nhiều đóng góp trong việc nuôi dưỡng, che chở và bảo vệ cán bộ cách mạng.
Với những đóng góp cho phong trào cách mạng, bà Ngô Thị Lý được ghi nhận là một trong những người mẹ tiêu biểu của phong trào phụ nữ cách mạng tỉnh Hưng Yên và được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Chính truyền thống gia đình và quê hương giàu lòng yêu nước ấy đã góp phần hình thành nhân cách, ý chí đấu tranh và lý tưởng cách mạng của Tô Hiệu ngay từ những năm tháng tuổi trẻ.
Năm 14 tuổi, khi đang học tại Trường Pháp - Việt ở thị xã Hải Dương, Tô Hiệu đã sớm tham gia các phong trào yêu nước của học sinh như bãi khóa, tổ chức truy điệu, để tang cụ Phan Châu Trinh, tham gia phong trào đòi ân xá cụ Phan Bội Châu. Những hoạt động này đã mở đầu cho con đường đấu tranh cách mạng của người thanh niên trẻ tuổi.
Giai đoạn 1927-1929, Tô Hiệu ra Hà Nội học tại Trường Cao đẳng Tiểu học, sống cùng người anh cả là Tô Tu. Tại đây, ông tiếp tục tham gia các hoạt động cách mạng và qua quá trình rèn luyện, thử thách, năm 1929 được kết nạp vào Học sinh đoàn - một tổ chức thuộc Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Cuối năm 1929, Tô Hiệu vào Sài Gòn hoạt động cách mạng cùng người anh ruột là Tô Chấn. Năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 4 năm tù và đày ra Nhà tù Côn Đảo. Trong những năm tháng bị giam cầm nơi “địa ngục trần gian”, Tô Hiệu vẫn giữ vững khí tiết, tích cực tham gia đấu tranh trong tù, miệt mài học tập lý luận cách mạng, từng bước trưởng thành về tư tưởng, bản lĩnh chính trị và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Năm 1934, sau khi mãn hạn tù Côn Đảo, thực dân Pháp đưa Tô Hiệu về quản thúc tại quê nhà Xuân Cầu. Không khuất phục trước sự kiểm soát của chính quyền thực dân, ông tiếp tục cống hiến cho quê hương, quan tâm đến việc đào tạo thế hệ trẻ. Ông vận động nhân dân đóng góp công sức, tiền của xây dựng Trường Kiêm Bị Xuân Cầu, đồng thời trực tiếp tham gia giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho học sinh.
Trong thời gian bị quản thúc, Tô Hiệu vẫn tìm mọi cách duy trì liên lạc với tổ chức Đảng, gây dựng phong trào cách mạng tại địa phương. Năm 1936, cùng với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh) và nhiều cán bộ khác, ông tham gia khôi phục hệ thống tổ chức Đảng, lãnh đạo phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ ở Hà Nội và các vùng phụ cận.
Tại một cuộc họp bí mật trên căn gác ở phố Hàng Bột (Hà Nội), Xứ ủy Bắc Kỳ được thành lập, đồng chí Tô Hiệu được bầu làm Ủy viên Thường vụ Xứ ủy, phụ trách các tỉnh miền duyên hải Bắc Bộ, lấy Hải Phòng làm địa bàn trọng điểm. Trên cương vị này, ông đã góp phần củng cố tổ chức Đảng, xây dựng lực lượng cách mạng và trực tiếp chỉ đạo nhiều phong trào đấu tranh lớn tại Hải Phòng.
Giữ trọng trách Bí thư Chi bộ nhà tù Sơn La và chuyện cây đào Tô Hiệu
Tháng 2/1939, Trung ương Đảng phân công đồng chí Tô Hiệu phụ trách Liên tỉnh B (gồm các tỉnh miền duyên hải Bắc Bộ, Hải Dương và Hưng Yên), đồng thời trực tiếp giữ cương vị Bí thư Thành ủy Hải Phòng.
Dưới sự chỉ đạo của ông, phong trào công nhân tại Hải Phòng phát triển mạnh mẽ, với nhiều cuộc đấu tranh tiêu biểu như cuộc bãi công của hơn 1.000 thợ xẻ (tháng 4/1939), cuộc đình công của 1.500 công nhân Cảng Hải Phòng (tháng 5/1939), đặc biệt là cuộc bãi công của hơn 3.000 công nhân Nhà máy Tơ Hải Phòng, tạo tiếng vang lớn trong phong trào đấu tranh cách mạng cả nước.
Ngày 1/12/1939, trong khi đến cơ sở in tại xóm thợ Thượng Lý (Hải Phòng) kiểm tra việc chuẩn bị tài liệu tuyên truyền cho phong trào đấu tranh, ông bị thực dân Pháp bắt giữ. Dù bị tra tấn dã man, dụ dỗ, mua chuộc, bị giam giữ tại Đề lao Hải Phòng rồi chuyển đến Hỏa Lò (Hà Nội), ông vẫn giữ vững tinh thần cách mạng, không khai báo, không khuất phục.
Cuối tháng 12/1939, thực dân Pháp kết án Tô Hiệu 5 năm tù và đày ông lên Nhà tù Sơn La. Đây cũng là thời điểm Chi bộ Nhà tù Sơn La được thành lập. Ban chi ủy lâm thời, gồm 10 người, do đồng chí Nguyễn Lương Bằng làm Bí thư chi bộ. Ðến tháng 2/1940, chi bộ chuyển thành chính thức, do đồng chí Trần Huy Liệu làm Bí thư, đồng chí Tô Hiệu làm Ủy viên.
Tháng 5/1940, tại Đại hội Chi bộ nhà tù, đồng chí Tô Hiệu được bầu làm Bí thư. Đến tháng 10/1941 do sức khỏe yếu, ông xin nghỉ Bí thư Chi bộ nhưng vẫn làm Trưởng ban Huấn luyện đào tạo của Chi bộ và là cố vấn cho Chi bộ.
Trong điều kiện lao tù khắc nghiệt, bệnh tật ngày càng hành hạ, Tô Hiệu vẫn cùng tập thể Chi bộ Nhà tù Sơn La tổ chức đời sống, duy trì việc học tập chính trị, đào tạo cán bộ và xây dựng phong trào đấu tranh. Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, một hệ thống tổ chức chặt chẽ được hình thành với các ban phụ trách nhiều lĩnh vực như trật tự, kinh tế, cứu tế, đối ngoại, sản xuất, dân vận, binh vận, học tập và xuất bản báo Suối Reo - tờ báo cách mạng bí mật trong nhà tù.
Trước khi Tô Hiệu bị đày lên Nhà tù Sơn La, nơi đây có gần 300 tù nhân thuộc nhiều lực lượng, thành phần khác nhau như cộng sản, Quốc dân Đảng, các nhóm thân Nhật và những người giác ngộ cách mạng từ các nhà tù khác chuyển đến. Do thiếu sự đoàn kết, tổ chức đấu tranh chưa hiệu quả, đời sống tù nhân vô cùng khắc nghiệt; chỉ trong vài năm, gần 1/3 số tù nhân đã chết vì bệnh tật, đói rét.
Trước thực tế đó, Tô Hiệu cùng Chi ủy Nhà tù Sơn La chủ trương tập hợp, đoàn kết các lực lượng tù nhân dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng. Nhà tù đã tổ chức Đại hội đại biểu toàn trại, thành lập Ủy ban Nhà tù để triển khai các chủ trương đấu tranh, bảo vệ quyền lợi và cải thiện đời sống cho tù nhân.
Dưới sự chỉ đạo của Tô Hiệu, tù nhân đấu tranh buộc cai ngục xóa bỏ chế độ cung cấp hà khắc, cho phép tự tổ chức sản xuất, trồng rau, chăn nuôi để cải thiện bữa ăn. Nhờ đó, đời sống, sức khỏe tù nhân từng bước được nâng lên; từ năm 1940 đến 1945, số người chết trong tù giảm xuống chỉ còn 7 trường hợp.
Không chỉ lãnh đạo đấu tranh cải thiện đời sống, Tô Hiệu còn biến Nhà tù Sơn La thành một trường học cách mạng đặc biệt. Ông tổ chức các lớp học chính trị, quân sự, văn hóa, trực tiếp biên soạn tài liệu, đào tạo cán bộ, bồi dưỡng giảng viên và hướng dẫn phong trào đấu tranh.
Đặc biệt, trong tù còn có cả lớp huấn luyện quân sự. Có lần, khi đi lao động khổ sai trong rừng, các chiến sĩ còn thuyết phục cả lính áp tải cho mượn súng để… tập quân sự. Về văn hoá, ngoài dạy và học tiếng Việt, mọi người còn được học tiếng Pháp, tiếng Trung và tổ chức các hoạt động văn hóa như diễn kịch vào dịp Tết.
Từ môi trường rèn luyện khắc nghiệt nhưng giàu tính cách mạng ấy, nhiều chiến sĩ cộng sản của Chi bộ Nhà tù Sơn La sau này trở thành những cán bộ lãnh đạo quan trọng của Đảng, Nhà nước và Quân đội như Văn Tiến Dũng, Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Thanh Bình, Mai Chí Thọ....
Sau nhiều năm bị giam cầm, cùng với sự tàn phá của bệnh tật và chế độ tù đày hà khắc, sức khỏe của Tô Hiệu ngày càng suy kiệt. Vào ngày 7/3/1944, đồng chí Tô Hiệu hy sinh tại Nhà tù Sơn La khi mới 32 tuổi, để lại niềm tiếc thương sâu sắc trong lòng đồng chí, đồng đội.
Đặc biệt, khi còn sinh thời, có cây đào trong khuôn viên nhà tù được ông vô cùng yêu quý, chăm sóc. Để tưởng nhớ và ngưỡng mộ tinh thần cách mạng của ông, năm 1945 những người bạn tù cộng sản của ông đã đặt tên cây đào này là cây đào Tô Hiệu.
Ông được an táng tại Vườn ổi (nghĩa trang Nhà tù Sơn La). Hình ảnh người chiến sĩ cộng sản kiên trung cùng câu chuyện về cây đào Tô Hiệu đã trở thành biểu tượng bất diệt về ý chí, nghị lực và niềm tin vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam.



