Tô Ký: Từ cậu học trò nghèo đến vị Thiếu tướng kiên trung của cách mạng
Thiếu tướng Tô Ký (1919-1999) là một trong những nhân vật tiêu biểu của cách mạng Việt Nam, người con ưu tú của vùng đất giàu truyền thống đấu tranh Hóc Môn - Bà Điểm - Củ Chi. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Bình Lý (nay là xã Bình Mỹ, TP. Hồ Chí Minh). Dù phải sớm nghỉ học do hoàn cảnh khó khăn, cuộc đời ông đã trở thành một bản anh hùng ca oanh liệt về lòng yêu nước, sự kiên trung, dũng cảm và tài thao lược, gắn liền với những chặng đường lịch sử đầy gian khổ nhưng vô cùng hào hùng của dân tộc.

Tuổi Thơ và Bước Đường Đến Với Cách Mạng
Tô Ký, tên khai sinh là Tô Ký, sinh năm Mậu Ngọ 1918 (khai sinh năm 1919) tại làng Bình Lý (nay thuộc xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh), trong một gia đình nông dân nghèo. Do hoàn cảnh khó khăn, ông phải nghỉ học sớm để phụ giúp gia đình, nhưng vẫn giữ bản tính cần cù, hiếu học, tự học chữ Hán với mong muốn theo nghề thầy thuốc.
Cha của ông, cụ Tô Nếp, là một chiến sĩ cách mạng đã tham gia Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940. Cụ bị thực dân Pháp bắt giam và hy sinh bi tráng vào tháng 5 năm 1941, cùng gần 800 đồng chí khác bị nhấn chìm trên sông Sài Gòn. Chứng kiến cảnh cha bị tra tấn dã man và sau đó là sự hy sinh của cụ, lòng Tô Ký căm phẫn tột độ, thề sẽ chiến đấu để giải phóng dân tộc. Năm 16 tuổi, được sự giác ngộ của tổ chức và gia đình, ông chính thức tham gia cách mạng.
Những Năm Tháng Ngục Tù và Tên Tuổi “Ba Tô Ký”
Từ năm 1935-1936, Tô Ký tích cực hoạt động, đọc báo chí cách mạng cho người dân nghe, viết khẩu hiệu tuyên truyền. Tháng 4 năm 1937, với những thành tích xuất sắc, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).
Trong quá trình hoạt động, ông nhiều lần bị địch bắt và giam cầm. Lần đầu tiên, ông bị mật thám Pháp bắt tại Khám Lớn Sài Gòn khi đang phân phát truyền đơn. Dù bị tra tấn dã man, ông vẫn giữ vững khí tiết. Sau đó, ông bị kết án một năm tù và ba năm đày biệt xứ lên căng Tà Lài (trong rừng Cát Tiên, bên bờ sông Đồng Nai). Tại đây, vào tháng 3 năm 1941, ông cùng Trần Văn Giàu và một số đồng chí khác đã vượt ngục thành công.
Sau khi vượt ngục, ông lại bị bắt lần thứ hai vào năm 1943 và bị giam tại Bà Rá, rồi chuyển đến khám Tây Ninh. Trong những năm tháng tù đày, Tô Ký nổi tiếng với sự gan lì, dũng cảm, không chỉ khuất phục được các tay anh chị giang hồ trong tù mà còn luôn đứng ra chịu đòn tra tấn thay cho đồng chí của mình. Từ đó, cái tên thân thương “Ba Tô Ký” gắn liền với tên tuổi ông, thể hiện sự mến phục của đồng đội và nhân dân. Ông cũng được biết đến với tài ăn nói khéo léo, sử dụng vốn Hán học để thuyết phục cai ngục và binh lính, thậm chí vận động họ giao súng cho tù chính trị khi Nhật đảo chính Pháp năm 1945.
Thủ Lĩnh Quân Sự Tài Ba của Nam Bộ
Sau khi thoát khỏi ngục tù lần thứ hai vào tháng 3 năm 1945, Tô Ký trở về Gia Định, tham gia Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Định (Tỉnh ủy Giải phóng), phụ trách quân sự và lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở Hóc Môn.
Trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, ông trở thành một trong những thủ lĩnh quân sự đầu tiên nổi tiếng ở Nam Bộ. Ngày 01 tháng 11 năm 1945, tại làng Mỹ Hạnh Bắc, Giải phóng quân Liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa được thành lập, Tô Ký giữ chức Chỉ huy trưởng, cùng với Trần Văn Trà làm Chính trị viên. Ông đã có công lớn trong việc thu phục nhiều lực lượng giang hồ có tinh thần yêu nước vào lực lượng cách mạng. Ông cũng tận tình giúp đỡ Trung tướng Nguyễn Bình thống nhất các lực lượng vũ trang Nam Bộ, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho cuộc kháng chiến.
Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, Tô Ký đã giữ nhiều chức vụ quan trọng như Chi đội trưởng Chi đội 12 (Trung đoàn 312 Vệ quốc đoàn), Tư lệnh Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, Bí thư Tỉnh ủy Gia Định. Ông trực tiếp chỉ đạo và chỉ huy nhiều trận đánh dũng cảm, sáng tạo, gây tiếng vang lớn như trận chống càn ở Mỹ Hạnh (tháng 11/1945), trận tiêu diệt bót cầu Bà Hồng (tháng 2/1946), và trận chống địch tiến công căn cứ Tân Mỹ (tháng 10/1946).
Đóng Góp Trong Kháng Chiến Chống Mỹ và Xây Dựng Đất Nước
Sau Hiệp định Genève năm 1954, Tô Ký tập kết ra Bắc. Từ năm 1957 đến 1964, ông làm Chính ủy, sau đó là Tư lệnh Sư đoàn 338. Năm 1961, ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Từ năm 1965 đến 1967, ông giữ chức Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương, Phó Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Ông cũng từng là Chính ủy Quân khu VII, Tư lệnh Khu Sài Gòn - Chợ Lớn, Bí thư Tỉnh ủy Gia Định Ninh, Chính ủy Quân khu III, Giám đốc Trường Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong thời kỳ này, ông đã có nhiều đóng góp quan trọng vào việc xây dựng kinh tế và quốc phòng ở miền Bắc, như chỉ huy xây dựng 7 nông trường lớn, tham gia công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải, đắp đê Chương Mỹ, Mai Lâm. Ông cũng góp phần ổn định tinh thần cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc, điều động 4.000 quân dự bị vào miền Nam chiến đấu và tiếp nhận, điều trị hàng vạn thương bệnh binh.
Sau khi đất nước thống nhất, từ năm 1975 đến 1978, ông làm phái viên Tổng cục Chính trị tại phía Nam. Từ năm 1978 đến năm 1988, ông chuyển sang công tác tại Tổng cục Dầu khí, giữ chức vụ Đại diện Bộ trưởng phụ trách Dầu khí phía Nam, góp phần đặt nền móng xây dựng ngành dầu khí - một ngành kinh tế mũi nhọn còn non trẻ của đất nước. Sau khi nghỉ hưu, ông tiếp tục cống hiến cho xã hội, giữ chức Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam kiêm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh TP. Hồ Chí Minh khóa I.
Sự Ghi nhận của Đảng, Nhà nước và Nhân dân
Với những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng, Thiếu tướng Tô Ký đã được Đảng, Nhà nước và Quân đội trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: 2 Huân chương Độc lập hạng Nhất, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, cùng nhiều bằng khen, giấy khen khác. Năm 2010, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Chân dung đồng chí Tô Ký
Để ghi nhớ công lao của ông, nhiều địa phương đã đặt tên đường và trường học mang tên Tô Ký, đặc biệt là tại quận 12 và huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh.
Thiếu tướng Tô Ký là một tấm gương sáng về lòng dũng cảm, tinh thần kiên trung, tài năng quân sự và sự tận tụy với cách mạng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận xét ông là “Đảng viên trung kiên, dám xả thân vì nghĩa lớn, không sợ cường quyền, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, bè phái, cục bộ địa phương... với tấm lòng công minh cương trực”. Ông mãi mãi là “Anh Ba” Nam Bộ, một danh tướng nghĩa hiệp, được nhân dân và đồng đội yêu mến, kính trọng.


