Anh hùng Lực lượng vũ trang

Tổ máy gạt anh hùng và những kỳ tích giữa “tọa độ lửa” Ngã ba Đồng Lộc

Đồng Nai25/07/2026Đoàn xã Cẩm Khê (Đoàn xã Cẩm Khê)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tổ máy gạt anh hùng và những kỳ tích giữa “tọa độ lửa” Ngã ba Đồng Lộc

Giữa những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh) được ví như “tọa độ lửa”, nơi hứng chịu hàng vạn trận oanh kích ác liệt của máy bay Mỹ nhằm cắt đứt tuyến chi viện từ hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam. Trong cuộc chiến giữ đường đầy gian khổ ấy, bên cạnh những chiến sĩ quân đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến còn có những người công nhân giao thông âm thầm bám trụ bên những cỗ máy gạt, ngày đêm san lấp hố bom, giữ mạch máu giao thông thông suốt. Tổ máy gạt do Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Uông Xuân Lý phụ trách là một trong những tập thể đã viết nên những trang sử hào hùng tại vùng đất Đồng Lộc năm xưa.

Bám trụ giữa “chảo lửa” Đồng Lộc

Năm 1968, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, Ngã ba Đồng Lộc trở thành trọng điểm đánh phá ác liệt nhất của không quân Mỹ. Với vị trí đặc biệt quan trọng trên tuyến đường vận tải chiến lược Bắc – Nam, nơi đây được xem là “yết hầu” của tuyến chi viện cho chiến trường miền Nam.

Chỉ trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 10/1968, địch đã tổ chức hàng nghìn lượt máy bay đánh phá, trút xuống Đồng Lộc hàng chục nghìn quả bom các loại. Đường sá bị cày xới, hố bom chồng lên hố bom, nhưng những đoàn xe vận tải vẫn phải vượt qua để đưa lương thực, vũ khí, trang thiết bị vào chiến trường.

Trong hoàn cảnh đó, lực lượng giao thông vận tải được huy động về Đồng Lộc với nhiệm vụ bằng mọi giá phải giữ cho tuyến đường luôn thông suốt. Tháng 5/1967, ông Uông Xuân Lý được điều về làm Tổ trưởng Tổ máy gạt thuộc Đội thi công cơ giới, Ty Giao thông Hà Tĩnh. Với kinh nghiệm nhiều năm làm đường tại các công trình lớn như đường số 6 Điện Biên – Tây Trang, Chợ Bờ – Mộc Châu, sân bay quân sự Đa Phúc…, ông cùng đồng đội nhận nhiệm vụ đặc biệt: bảo đảm giao thông tại điểm nóng nhất của chiến trường Đồng Lộc.

Tại đây, mỗi ngày, những người thợ máy phải đối mặt với bom đạn và hiểm nguy luôn rình rập. Máy bay Mỹ liên tục quần thảo, ném bom bi, bom sát thương, bom từ trường, bom nổ chậm nhằm biến Đồng Lộc thành vùng đất chết. Nhưng với tinh thần “Sống bám đường, chết kiên cường dũng cảm”, những người công nhân giao thông vẫn kiên cường bám trụ.

Để bảo vệ người và máy, tổ máy đã có nhiều sáng kiến sáng tạo. Buồng lái được gia cố bằng tôn, chèn thêm vật liệu để hạn chế thương vong khi bom bi phát nổ. Máy được phủ bùn đất để tránh bị phát hiện dưới ánh pháo sáng ban đêm. Trong điều kiện không đèn, không người dẫn đường, những người lái máy phải điều khiển bằng kinh nghiệm và cảm giác, nghe tiếng động cơ, tiếng xích máy để nhận biết địa hình, san lấp từng hố bom, từng đoạn đường bị phá hủy.

Những kỳ tích giữa mưa bom bão đạn

Suốt những tháng ngày ở Đồng Lộc, Tổ máy gạt của ông Uông Xuân Lý đã cùng các lực lượng khác ngày đêm sửa đường, kéo xe bị hỏng, cứu hàng hóa, mở đường cho các đoàn xe vượt qua trọng điểm.

Không chỉ làm nhiệm vụ san lấp hố bom, các thành viên trong tổ còn phối hợp với thanh niên xung phong dẫn đường cho xe vận tải vượt qua những đoạn đường nguy hiểm. Có những lúc, giữa màn đêm đặc quánh, người chiến sĩ giao thông khoác áo trắng, cầm khăn làm tín hiệu để đưa từng đoàn xe vượt qua vùng bom đạn.

Một trong những ký ức không thể nào quên trong cuộc đời người Tổ trưởng Tổ máy gạt Uông Xuân Lý là lần trực tiếp đối mặt với hai quả bom nổ chậm tại khu vực Cầu Tối vào ngày 13/6/1968.

Khi đó, hai quả bom nằm ngay gần tuyến đường khiến đoàn xe vận tải không thể đi qua. Công binh đã tìm cách xử lý nhưng chưa thể phá được. Trước yêu cầu cấp bách phải mở đường, phương án dùng máy gạt tiếp cận bom được đưa ra.

Biết rằng chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể phải đánh đổi bằng tính mạng, nhưng vì nhiệm vụ chung, ông Uông Xuân Lý đã nhận trách nhiệm điều khiển máy. Trong ánh sáng lập lòe của pháo sáng, ông từng bước đưa chiếc máy gạt tiến gần những quả bom tử thần.

Sau nhiều phút căng thẳng, ông quyết định điều khiển máy tiếp xúc trực tiếp, dùng lưỡi gạt đẩy bom ra khỏi lòng đường. Một quả, rồi quả thứ hai lần lượt được đưa ra vị trí an toàn. Tuyến đường được giải phóng, đoàn xe hơn 100 chiếc chở hàng hóa, vũ khí tiếp tục hành quân vào chiến trường.

Khoảnh khắc ấy không chỉ thể hiện lòng dũng cảm của một người thợ máy, mà còn là biểu tượng cho ý chí “mở đường mà đi, đánh địch mà tiến” của những con người đã góp phần làm nên huyền thoại Đồng Lộc.

Bản hùng ca còn mãi với thời gian

Chiến tranh đã đi qua, nhưng những câu chuyện về Ngã ba Đồng Lộc vẫn luôn là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nước và ý chí vượt qua gian khó.

Năm 1970, Tổ máy gạt được Nhà nước tặng thưởng Huy chương Chiến công hạng Nhì. Năm 2010, ông Uông Xuân Lý vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngày nay, Ngã ba Đồng Lộc đã trở thành Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Nơi đây không chỉ ghi dấu sự hy sinh anh dũng của 10 nữ thanh niên xung phong Tiểu đội 4 mà còn ghi nhớ công lao của hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong, công nhân giao thông đã từng ngày, từng giờ giữ vững tuyến đường huyết mạch.

Những người thợ máy năm xưa nay đã bước qua tuổi cao, nhưng ký ức về một thời “mưa bom, bão đạn” vẫn còn nguyên vẹn. Họ luôn nhớ về những đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường, nhớ về những tháng ngày tuổi trẻ đã hiến dâng cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

Câu chuyện về Tổ máy gạt anh hùng tại Ngã ba Đồng Lộc mãi là lời nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình, về trách nhiệm giữ gìn và xây dựng đất nước. Bởi phía sau những con đường hôm nay là biết bao mồ hôi, nước mắt và sự hy sinh thầm lặng của những con người đã không tiếc tuổi xuân vì Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn