Tô Vĩnh Diện
Đông Xuân 1953 - 1954, tin tức quân sự từ khắp nơi dội về làm cho các chiến sĩ pháo cao xạ vô cùng sốt ruột. Sau bao nhiêu tháng trời học tập, họ chờ được ra trận đọ sức với không quân địch. Những ngày chờ đợi diễn ra căng thẳng, có vũ khí pháo cao xạ trong tay mà cứ phải nhìn lũ giặc trời hoành hành trên bầu trời, trong lòng ai nấy không yên.
Giữa lúc ấy Tô Vĩnh Diện lại bị ốm nặng, phải nằm điều trị ở quân y viện. Khi đồng chí Tô Vĩnh Diện ra viện trở về thì đơn vị đang gấp rút chuẩn bị lên đường đi Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Bộ đội hành quân lên Điện Biên Phủ. Chặng đường kéo pháo vào trận địa vô cùng gian khổ bắt đầu. Pháo phải tháo khỏi xe và thay bằng sức người để kéo. Hàng trăm người thay nhau kéo những cỗ pháo nặng hàng tấn vượt qua mỗi ngày vài cây số đường rừng núi cheo leo, khúc khuỷu. Sau hơn một tuần kéo pháo vào, vượt qua dãy Pa Sông vào chiếm lĩnh ở khu vực bản Tấu, phía Bắc cứ điểm Độc Lập. Vào đến nơi, tưởng nổ súng ngay thì đột nhiên có lệnh kéo pháo ra. Cán bộ, chiến sĩ ngơ ngác, không hiểu vì sao. Tô Vĩnh Diện cũng không khỏi hoang mang. Thế này nghĩa là thế nào? Kéo pháo vào rồi lại kéo pháo ra? Chi bộ Đảng họp bất thường, lãnh đạo, cán bộ, đảng viên, đoàn viên ổn định tư tưởng, tin tưởng vào cấp trên, vào Bộ Tổng tư lệnh.
Quân địch không ngờ rằng quân đội ta có những khẩu pháo lớn dường ấy mà lại bí mật vượt qua được hàng trăm cây số đường rừng, lên dốc, xuống đèo trên những con đường mà ngay đi bộ người ta cũng phải lần mò từng bước một. Quân địch lại không ngờ được rằng hàng tấn sắt thép kia đã được vận chuyển không do một thứ máy móc nào khác ngoài sức lực con người - những người chiến sĩ pháo cao xạ anh hùng với sức lao động phi thường…
Kéo pháo ra gian truân, ác liệt bội phần. Hàng trăm cánh tay bám chặt những sợi dây tời kéo khẩu pháo lặc lè lên dốc, rồi khi xuống dốc thì hàng trăm đôi bàn chân phải dậm thật mạnh tưởng như lún sâu xuống mặt đất, hàng trăm bàn tay ghì chặt những sợi dây buộc pháo, thả cho nó xuống từ từ, mà hai bên họ là vách núi dựng đứng, là vực sâu. Nguy hiểm hơn cả là chiến sĩ đi bên pháo để lao những hòn chèn, giữ cho pháo khỏi tụt và dũng cảm nhất có lẽ là chiến sĩ cầm càng pháo lái cho pháo đi đúng đường. Chỉ sẩy chân, sẩy tay là bị hất xuống vực, là bị bánh pháo đè nát người. Khẩu pháo cứ lầm lũi, lên dốc, xuống đèo gập ghềnh trong đêm tối và còn phải chịu những trận pháo kích của địch.
Con đường kéo pháo này mới được công binh phá rừng, chặt cây làm gấp trong một thời gian ngắn chuẩn bị cho chiến dịch nên còn rất mấp mô, gồ ghề. Chỉ cần bánh pháo chồm qua một hòn đá hay một gốc cây, pháo quật càng sang bên phải hay sang bên trái thì cũng đủ rụng rời chân tay ra rồi.
Tất cả đã chuẩn bị xong. Đêm tối mịt mùng, gần một trăm con người cùng lúc cúi xuống, cầm chắc sợi dây, choãi chân, hơi ngả người về phía sau sẵn sàng đợi lệnh. Những tiếng hô rì rầm nổi lên: Hai... ai, ba... này! Dô... ô... ô ta nào! Dô... ô... ô ta nào!
Khẩu pháo cựa quậy, nhúc nhắc, bánh pháo bắt đầu nhích dần từng cm, trên mặt đường tối nhờ nhờ. Tiếng thở phì phò, hổn hển, tiếng ư ưu... bị nén trong lồng ngực được phát ra, hòa với tiếng đất đá lăn theo bánh pháo rào rào. Mùi mồ hôi chua chua mặn mặn lẫn với mùi cỏ cây bị nghiến nát hăng hắc. Bánh pháo nhích dần, nhích dần lúc một phần ba, lúc một nửa, lúc cả vòng. Gần đến đỉnh Dốc Ba Tời, bộ đội dừng lại nghỉ vài phút, tranh thủ kiểm tra và chuẩn bị đổ dốc. Lúc này các chiến sĩ mới thấy mệt rã rời, chân đau, tay bỏng. Con đường kéo pháo vượt qua đã gian nan vất vả, nhưng chặng đường cuối cùng này gay go gấp bội, pháo phải đổ xuống một cái dốc ba bậc dựng đứng. Anh em công binh đã phải thiết kế ba cái tời liền nhau nên mới có tên là Dốc Ba Tời. Ở bậc dưới cùng dốc càng đứng, vực càng sâu, đường lại vòng. Đổ xong Dốc Ba Tời, pháo leo qua một quả đồi thoai thoải hình mâm xôi thì tới cầu Gỗ. Từ cầu Gỗ ra đường 41 khoảng cách không đầy 300m đường bằng. Nếu tính từ Dốc Ba Tời ra tới đường 41 thì chặng đường kéo pháo chỉ còn gần 2km nữa thôi. Nhưng đây là chặng đường đẫm máu và ác liệt nhất.



