Anh hùng Lực lượng vũ trang

Tô Vĩnh Diện (4)

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có những con người bình dị nhưng đã làm nên những hành động phi thường. Một trong những tấm gương tiêu biểu ấy là anh hùng liệt sĩ – người chiến sĩ đã lấy thân mình chèn pháo trong , trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924 tại thôn Dược Khê, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Triệu Sơn).

Cần Thơ02/04/2026Đào Nguyễn Thanh Ngọc - THPT Thái Bình Dương (Đoàn phường Ninh Kiều)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có những con người bình dị nhưng đã làm nên những hành động phi thường. Một trong những tấm gương tiêu biểu ấy là anh hùng liệt sĩ – người chiến sĩ đã lấy thân mình chèn pháo trong , trở thành biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924 tại thôn Dược Khê, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc huyện Triệu Sơn). Anh sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo và phải trải qua tuổi thơ nhiều vất vả. Mới tám tuổi, anh đã phải đi ở cho địa chủ, làm những công việc nặng nhọc như chăn trâu, cắt cỏ, cày bừa. Tuy vậy, cậu bé Tô Vĩnh Diện vẫn nổi tiếng nhanh nhẹn, khỏe mạnh và có tinh thần lãnh đạo. Khi chăn trâu cùng bạn bè, anh thường tổ chức những “trận đánh giả”, lúc nào cũng là người chỉ huy. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, bộ đội về đóng quân ở làng ngày càng nhiều. Phong trào “mẹ nuôi chiến sĩ” lan rộng khắp nơi. Gia đình anh tuy nghèo nhưng vẫn sẵn sàng đón các chiến sĩ về ở. Nhà chật, nhiều người phải ngủ ngoài hiên trên những chiếc nong tre, nhưng tình cảm quân dân vẫn ấm áp. Chính những ngày tháng ấy đã nuôi dưỡng trong lòng người thanh niên Tô Vĩnh Diện tình yêu nước và khát vọng cầm súng bảo vệ Tổ quốc. Năm 1949, anh xung phong gia nhập quân đội và nhanh chóng trở thành chiến sĩ gương mẫu. Trong học tập cũng như chiến đấu, anh luôn chấp hành kỷ luật nghiêm túc, không ngại gian khổ và luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Năm 1953, để chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ, quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ. Tô Vĩnh Diện được điều về làm tiểu đội trưởng pháo cao xạ 37 mm thuộc . Đây là loại pháo phòng không hiện đại do viện trợ, lần đầu xuất hiện trên chiến trường Việt Nam. Để đưa những khẩu pháo nặng hơn một tấn vào trận địa Điện Biên, bộ đội ta phải kéo pháo vượt qua rừng núi hiểm trở. Đường dốc cao, trơn trượt, nhiều vực sâu, không thể dùng xe cơ giới nên tất cả đều phải kéo bằng sức người. Trong suốt quá trình ấy, Tô Vĩnh Diện luôn xung phong nhận phần việc khó khăn nhất, trực tiếp giữ càng lái để bảo đảm khẩu pháo đi đúng hướng. Đêm 1 tháng 2 năm 1954, khi đơn vị đang kéo pháo qua một con dốc nguy hiểm gần bản Chuối, bất ngờ dây tời chính bị đứt. Khẩu pháo nặng hơn một tấn lao xuống dốc trong tiếng nổ dữ dội của đạn pháo địch. Hàng trăm chiến sĩ cố ghìm dây nhưng không thể giữ nổi. Trong tình thế nguy cấp ấy, Tô Vĩnh Diện đã hô lớn: “Thà hy sinh quyết bảo vệ pháo!” rồi lao lên dùng chính thân mình chèn vào bánh pháo. Khẩu pháo chững lại, tạo điều kiện cho đồng đội kịp thời giữ lại. Nhưng anh đã anh dũng hy sinh giữa núi rừng Điện Biên. Trước khi nhắm mắt, câu hỏi cuối cùng của anh dành cho đồng đội chỉ là: “Pháo có việc gì không?” – một câu hỏi giản dị nhưng chứa đựng tinh thần trách nhiệm và lòng yêu nước sâu sắc. Hình ảnh người chiến sĩ lấy thân mình chèn pháo đã trở thành biểu tượng bất tử. Nhà thơ từng viết trong bài Hoan hô chiến sĩ Điện Biên:

“Những đồng chí thân chôn làm giá súng, Đầu bịt lỗ châu mai, băng mình qua núi thép gai ào ào vũ bão. Những đồng chí chèn lưng cứu pháo, Nát thân, nhắm mắt còn ôm…”

Khẩu pháo 37 mm mà Tô Vĩnh Diện cứu được sau đó tiếp tục tham chiến và góp phần bắn rơi nhiều máy bay địch, đóng góp vào chiến thắng – chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Với tinh thần chiến đấu quả cảm ấy, Tô Vĩnh Diện đã được truy tặng danh hiệu cùng Huân chương Quân công hạng Nhì. Hơn bảy mươi năm đã trôi qua, nhưng hình ảnh người chiến sĩ trẻ lấy thân mình chèn pháo vẫn sống mãi trong ký ức dân tộc. Giữa những năm tháng “thời hoa lửa”, Tô Vĩnh Diện đã chọn cách sống và hy sinh đẹp nhất: bảo vệ khẩu pháo, bảo vệ đồng đội và bảo vệ tương lai của đất nước. Chính những con người bình dị mà phi thường như anh đã viết nên những trang sử vàng của dân tộc Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn