TÔ VĨNH DIỆN: LẤY THÂN MÌNH CHÈN PHÁO, VIẾT NÊN KHÚC TRÁNG CA BẤT TỬ
Trong hành trình kéo pháo vào chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954, người chiến sĩ Tô Vĩnh Diện đã anh dũng hy sinh, lấy thân mình chèn bánh pháo, bảo vệ vũ khí chiến đấu của quân đội. Sự hy sinh cao cả ấy là biểu tượng sáng ngời của lòng dũng cảm, tinh thần trách nhiệm và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, mãi khắc ghi trong lịch sử dân tộc.
"Tuổi xuân son sắt lời thề,
Vì dân, vì nước, chẳng nề hy sinh.
Thân mình chèn pháo quên mình,
Tô Vĩnh Diện sáng sử xanh muôn đời."
Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924, quê ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Sinh ra trong cảnh nghèo khó, từ nhỏ ông đã phải lao động vất vả. Cách mạng mở ra con đường mới, đưa người thanh niên giàu nghị lực ấy đến với lý tưởng độc lập dân tộc. Năm 1946, ông tham gia dân quân địa phương; năm 1949, ông tình nguyện nhập ngũ, trực tiếp chiến đấu và trưởng thành trong quân đội. Với tinh thần gương mẫu, kiên cường, ông được giao nhiệm vụ trong lực lượng pháo cao xạ, chuẩn bị tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Đầu năm 1954, trên những cung đường núi hiểm trở hướng về Điện Biên Phủ, bộ đội ta phải dùng sức người kéo những khẩu pháo nặng hàng tấn vượt dốc cao, vực sâu. Khi Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định chuyển phương án tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, các đơn vị pháo binh nhận lệnh kéo pháo ra khỏi trận địa. Hành trình vốn đã gian nan nay càng thêm hiểm trở. Mỗi khẩu pháo là một phương tiện chiến đấu quan trọng; bảo vệ pháo cũng chính là bảo vệ sức mạnh chiến đấu của quân đội.
Đêm 1 tháng 2 năm 1954, tại dốc Chuối, trời tối, đường trơn, địa hình hẹp và dốc đứng. Trong lúc đơn vị đang kéo pháo ra, dây tời bất ngờ đứt, khiến khẩu pháo cao xạ 37 mm nặng hơn hai tấn lao xuống dốc. Các chiến sĩ lập tức ghìm giữ, nhưng sức nặng của khối thép vượt quá khả năng khống chế. Tình thế trở nên đặc biệt nguy cấp: chỉ một khoảnh khắc chậm trễ, khẩu pháo có thể lao xuống vực sâu. Giữa ranh giới mong manh ấy, Tô Vĩnh Diện không lùi bước. Ông hô vang: “Thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo!” . Rồi ông buông tay lái, lao về phía bánh pháo, lấy thân mình chèn giữ, ngăn khối thép khổng lồ tiếp tục lao xuống vực. Khẩu pháo được giữ lại, nhưng người chiến sĩ đã bị thương nặng và hy sinh.
Một con người ngã xuống. Một khẩu pháo được giữ lại. Nhưng ý chí của người chiến sĩ ấy không dừng lại cùng nhịp thở cuối cùng.Sự hy sinh của Tô Vĩnh Diện không phải một hành động bột phát tách rời nhiệm vụ, mà là sự lựa chọn quyết liệt trong thời khắc sinh tử, kết tinh từ ý thức trách nhiệm, lòng dũng cảm và tinh thần đặt nhiệm vụ chiến đấu lên trên lợi ích cá nhân. Ông hiểu giá trị của khẩu pháo đối với chiến dịch; hơn hết, ông hiểu trách nhiệm của người lính trước đồng đội và Tổ quốc. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, tạc nên cột mốc vàng chói lọi trong lịch sử dân tộc. Thế nhưng, giữa hào quang rực rỡ của ngày vĩ đại ấy, người anh hùng chèn pháo năm xưa đã vĩnh viễn nằm lại, không kịp chứng kiến giây phút cờ đỏ sao vàng tung bay trên mái hầm De Castries.
Hơn bảy thập kỷ trôi qua, hành động lấy thân mình chèn bánh pháo của anh hùng Tô Vĩnh Diện vẫn sừng sững như một biểu tượng bất tử của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Tên tuổi ông không dừng lại ở một khoảnh khắc bi tráng giữa tọa độ lửa, mà đã trở thành bản trường ca về phẩm chất người lính: kiên định trước hiểm nguy, tận tụy với nhiệm vụ và sẵn sàng dâng hiến tất cả vì độc lập, tự do của dân tộc.
Hôm nay, khi đất nước trọn niềm vui hòa bình, thế hệ trẻ không còn phải đối mặt với những cung đường kéo pháo ngập tràn bom đạn. Thế nhưng, ngọn lửa Tô Vĩnh Diện chưa bao giờ tắt. Đó là bài học muôn đời về một lý tưởng sống cao đẹp: biết hành động bằng tinh thần trách nhiệm, vững vàng trước mọi thử thách và luôn đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên mọi toan tính cá nhân. Lịch sử đã khắc ghi tên ông vào khắc dấu vĩnh hằng. Kế thừa tinh thần bất diệt ấy, tuổi trẻ hôm nay có trách nhiệm viết tiếp bản hùng ca dân tộc không phải bằng tiếng súng chiến đấu, mà bằng bản lĩnh, lòng yêu nước nồng nàn và những hành động thiết thực để dựng xây, bảo vệ vững chắc non sông.
Biên soạn: Phạm Thị Thúy Trang



