Tô Vĩnh Diện - Người chiến sĩ lấy thân mình cứu pháo
Phạm Anh Thư
Tô Vĩnh Diện quê ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Sinh ra trong một gia đình nghèo, từ năm lên 8 tuổi, anh đã phải đi ở cho địa chủ. Suốt 12 năm sống trong cảnh làm thuê, Tô Vĩnh Diện phải chịu nhiều áp bức, bất công. Sau Cách mạng Tháng Tám, anh thoát khỏi cuộc sống đi ở. Năm 1946, Tô Vĩnh Diện tham gia dân quân tại địa phương. Đến năm 1949, anh tình nguyện gia nhập quân đội. Ngay từ những ngày đầu trong quân ngũ, anh luôn gương mẫu, tích cực trong học tập và công tác.
Tháng 5-1953, quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ để chuẩn bị cho những trận đánh lớn. Tô Vĩnh Diện được điều làm Tiểu đội trưởng một đơn vị pháo cao xạ. Khi ấy, pháo cao xạ là loại vũ khí hiện đại, có lá chắn phía trước, tầm bắn tối đa 6.700m, tầm bắn hiệu quả từ 2.500 đến 3.000m. Mỗi khẩu đội gồm 7 pháo thủ, đảm nhiệm các nhiệm vụ như quay hướng, quay tầm, xác định cự ly, hướng đường bay, nạp đạn, tiếp đạn và dự bị.
Đông Xuân 1953-1954, sau nhiều tháng học tập và huấn luyện, các chiến sĩ pháo cao xạ háo hức chờ ngày được ra trận. Đúng lúc ấy, Tô Vĩnh Diện bị ốm nặng và phải điều trị tại quân y viện. Khi khỏi bệnh trở về đơn vị, anh cùng đồng đội đang gấp rút chuẩn bị lên đường tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Đường hành quân lên Điện Biên Phủ vô cùng gian khổ. Những khẩu pháo nặng hàng tấn phải tháo khỏi xe, thay bằng sức người để kéo qua những con đường rừng núi hiểm trở. Hàng trăm chiến sĩ thay nhau kéo pháo, mỗi ngày chỉ vượt qua được vài cây số đường rừng. Sau hơn một tuần, đơn vị vượt qua dãy Pa Sông, tiến vào khu vực bản Tấu, phía Bắc cứ điểm Độc Lập. Tuy nhiên, khi tưởng rằng sắp bước vào trận chiến, đơn vị bất ngờ nhận được lệnh kéo pháo ra.
Kéo pháo ra còn khó khăn và nguy hiểm hơn lúc đưa pháo vào. Những khẩu pháo nặng hàng tấn phải vượt qua các con dốc dựng đứng, vực sâu và những đoạn đường gồ ghề. Hàng trăm chiến sĩ phải cùng lúc kéo dây, giữ pháo và dùng chèn để ngăn bánh pháo trôi xuống. Chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể khiến người lính bị cuốn xuống vực hoặc bị bánh pháo đè trúng. Đặc biệt, Dốc Ba Tời là một trong những đoạn đường nguy hiểm nhất với ba bậc dốc dựng đứng, phía dưới là vực sâu.
Khi đơn vị chuẩn bị đưa pháo xuống Dốc Ba Tời, quân địch liên tục pháo kích. Tiếng nổ vang lên giữa núi rừng, đất đá tung tóe, nhưng các chiến sĩ vẫn bám chắc vào dây và tiếp tục nhiệm vụ. Tô Vĩnh Diện cùng đồng chí Tri được giao nhiệm vụ lái pháo. Anh liên tục nhắc nhở đồng đội phải phối hợp thật chặt chẽ, người giữ dây, người phanh, người chèn bánh, quyết tâm đưa khẩu pháo xuống dốc an toàn.
Khi khẩu pháo đang xuống dốc thứ ba, một mảnh pháo của địch bất ngờ chém đứt một sợi dây tời. Khẩu pháo mất lực ghìm và bắt đầu lao nhanh xuống dốc. Các chiến sĩ lập tức tìm cách dùng chèn để giữ lại nhưng sức nặng của khẩu pháo khiến mọi nỗ lực trở nên vô cùng khó khăn. Nhiều chiến sĩ bị kéo lê trên mặt đường, có người bị hất xuống vực, nhưng vẫn cố gắng bám lấy khẩu pháo.
Trong giây phút nguy hiểm nhất, Tô Vĩnh Diện vẫn cố gắng điều khiển khẩu pháo về phía vách núi. Khi nhận thấy khẩu pháo có nguy cơ lao xuống vực sâu, anh đã quyết định hy sinh thân mình để cứu pháo. Tô Vĩnh Diện buông tay lái, dùng toàn bộ sức lực lao người vào trước bánh pháo, lấy thân mình làm điểm chặn. Khẩu pháo chồm lên, cuốn anh vào dưới đế kích rồi dừng lại. Đồng đội lập tức chạy đến chèn bánh, kéo pháo lùi lại và đưa anh ra ngoài. Tuy nhiên, do vết thương quá nặng, vài phút sau Tô Vĩnh Diện đã hy sinh.
Sau khi Tô Vĩnh Diện hy sinh, toàn Đại đội 827 đã nghiêm trang đứng trước mộ người đồng đội và thề noi gương anh, quyết tâm chiến đấu đến cùng, tiêu diệt máy bay địch. Tấm gương hy sinh của anh nhanh chóng được lan tỏa trên toàn mặt trận, trở thành nguồn động viên lớn để cán bộ, chiến sĩ tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ.
Ngay tại mặt trận, Tô Vĩnh Diện được truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Hình ảnh người chiến sĩ lấy thân mình cứu pháo đã trở thành biểu tượng đẹp về lòng dũng cảm và tinh thần hy sinh của người lính Điện Biên. Trong bài thơ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”, nhà thơ Tố Hữu đã viết:
“Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân, nhắm mắt, còn ôm”
Ngày 7-5-1956, Tô Vĩnh Diện được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, trở thành người anh hùng pháo cao xạ đầu tiên của quân đội ta hy sinh trên mặt trận Điện Biên Phủ. Hiện nay, hài cốt của anh được Đảng và Nhà nước quy tập và an táng tại Nghĩa trang Đồi A1, thành phố Điện Biên Phủ.
Sự hy sinh của Tô Vĩnh Diện đã trở thành biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và ý chí kiên cường. Anh đã đặt nhiệm vụ, đồng đội và lợi ích của Tổ quốc lên trên sự sống của bản thân. Tên tuổi Tô Vĩnh Diện vì thế mãi được nhắc đến như một tấm gương sáng của người chiến sĩ Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần làm nên truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam.



