Anh hùng Lực lượng vũ trang

Tô Vĩnh Diện – Từ tuổi thơ gian nan đến tượng đài tuổi trẻ bất diệt của ánh bình minh rực rỡ của dân tộc.

Trong cuộc đời của mỗi chúng ta, ai cũng có cho mình một bầu trời thanh xuân rực rỡ gắn liền với trường lớp, tuổi thơ, tình yêu,… hoặc là những giấc mơ đã đi qua nhưng vẫn muốn trở lại dù biết là không thể

Đắk Lắk13/05/2026Lê Chí Bảo (Khoa LLCT - Trường Đại học Tây Nguyên)8 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong cuộc đời của mỗi chúng ta, ai cũng có cho mình một bầu trời thanh xuân rực rỡ gắn liền với trường lớp, tuổi thơ, tình yêu,… hoặc là những giấc mơ đã đi qua nhưng vẫn muốn trở lại dù biết là không thể. Trong nhiều cuốn sách mà tôi đã đọc về thanh xuân thì đây không chỉ là quãng thời gian tươi đẹp,ngắn ngủi và duy nhất của mỗi người mà đó còn là mảnh đất tràn đầy nhiệt huyết, đam mê và khát vọng của tuổi trẻ con người. Và trở lại 72 năm về trước trong một mốc thời gian mà cả một dân tộc chìm trong khói đạn chiến tranh, mốc thời gian của những khát vọng, lời hứa về một Tổ Quốc độc lập. Đó không chỉ là năm 1954 bình thường mà chúng ta đã từng học,nghe qua mà hơn hết đó là cột mốc đáng nhớ của toàn thể dân tộc Việt Nam gắn liền với chiến thắng Điện Biên Phủ (07/05/1954). Nếu những người trẻ có dịp nghe những mẫu truyện, lời kể của các cựu chiến binh từng chiến đấu ở đây chắc hẳn sẽ biết đến sự khốc liệt của chiến tranh, tội ác của thực dân và cảnh gia đình bị chia rẻ bởi chiến tranh. Chính những mẫu truyện, lời thoại ấy chúng ta mới cảm nhận được đất nước không tự nhiên mà có, đó là một quá trình dựng nước, giữ nước lâu dài của ông cha ta và những người lính lão thành của cách mạng không hề oán trách, than phiền bất cứ điều gì mà họ chỉ đổi lại 2 từ “tự hào” khi được chiến đấu cho đất nước.

Nhưng trong chiến tranh bao giờ cũng có người hi sinh dẫu có trẻ hay già đi nữa, họ vẫn phải nằm lại nơi đất mẹ thân thương. Họ hi sinh nhưng vẫn tin vào thế hệ trẻ mai sau tiếp nối ý chí yêu nước và ghi nhớ công lao to lớn mà họ đã đánh đổi thậm chí có người đã không tận hưởng hết thanh xuân của mình mà đã trở thành liệt sĩ. Những người lính trẻ ấy không xem thanh xuân là đẹp nhất đời người mà tuổi trẻ của họ được hòa chung với lời thề của Tổ Quốc vì “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc” trên cả mạng sống của mình và họ cũng là người đã trở thành niềm cảm hứng, truyền lại “Thanh xuân” cho nhiều thế hệ trẻ hôm nay. Người mà tôi muốn nhắc đến trong những người lính trẻ kia là một liệt sĩ, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân đó là anh hùng Tô Vĩnh Diện.

Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924 tại xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã An Nông, tỉnh Thanh Hóa). Anh sinh ra trong một gia đình rất nghèo, cuộc sống khó khăn nên từ khi lên 8 tuổi anh phải đi ở, lớn lên làm tá điền cho địa chủ làng bên để kiếm sống qua việc làm thuê, gánh nước, cuốc đất... Tuy nhiên sống trong môi trường đầy rẫy những áp bức, bất công khiến cho anh càng khao khát về một tương lai đất nước không còn áp bức bốc lột của bè lũ thực dân, phong kiến mục nát.

Sau khi đất nước được độc lập vào năm 1945, Tô Vĩnh Diện cùng bao người khác hoàn toàn tin tưởng về đất nước mà họ luôn ao ước. Nhưng khi thực dân Pháp quay trở lại đô hộ nước ta, chính lòng tin yêu với Đảng, với chủ tịch Hồ Chí Minh và quyết tâm hừng hực khí thế “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh” đã thôi thúc anh tham gia lực lượng dân quân ở địa phương. Đến năm 1949, anh xung phong tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam, tại đây anh luôn tuân thủ nghiêm đường lối của Đảng, gương mẫu trong học tập và công tác nên được cử sang Trung Quốc tập huấn về pháo binh. Đến tháng 3/1954, quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ chuẩn bị cho các trận đánh lớn trong chiến dịch Đông – Xuân (1953-1954) và anh Diện được điều về làm tiểu đội trưởng cho một đơn vị pháo cao xạ của Đại đoàn 351. Nhiều lần Bộ Chính trị đón nhận không ít những tin tức về tình hình chiến sự bấy giờ, dù được Liên Xô, Trung Quốc và 1 số nước XHCN ủng hộ và viện trợ nhưng nếu xét về binh lực, trang thiết bị thì thực dân Pháp lại hiện đại hơn ta. Mỗi ngày các đơn vị pháo binh đều rất căng thẳng khi thấy bè lũ thực dân cho máy bay không kích những vùng bộ đội ta đang hoạt động bí mật. Lúc này Tô Vĩnh Diện không may bị ốm nặng vì những cơn sốt rét rừng và lương thực khan hiếm nhưng vừa mới khỏi bệnh anh lập tức gấp rút hành quân cùng những người lính còn lại để chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Đội của anh được giao nhiệm vụ kéo xe pháo 37mm kiểu M1939 do Liên Xô sản xuất. Không chỉ tiểu đoàn của anh mà các tiểu đoàn khác cũng kéo theo nhiều khẩu pháo lớn tương tự.

Hình ảnh những người lính Cụ Hồ hành quân và kéo pháo ấy như những đàn kiến anh hùng, tuy nhỏ bé gầy gò thế kia lại có thể di chuyển gần 1.000 km tập kết tại Điện Biên Phủ. Đường đi tại nơi được ví như “rừng thiên nước độc” cực kì là gian nan, cực khổ nhất là những con dốc cao còn bên dưới là những vực sâu đủ để kết liễu sinh mạng của bất kì ai nếu có sai lầm nhưng điều đó không làm nản ý chí của bộ đội ta trong đó có Tô Vĩnh Diện. Để giữ bí mật, các đơn vị pháo binh huy động lực lượng kéo pháo trong trời tối từ ngày 13-15/1/1954 để tránh máy bay địch phát hiện và ban đầu các đơn vị từ Đại đội đến Trung đoàn bộ đội ta phải kéo pháo băng qua rừng núi hiểm trở nhưng với tầm nhìn xa của Đảng, Bác dựa trên bối cảnh, tương quan lực lượng và thời cơ chiến lược đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chuyển từ phương châm “đánh nhanh thắng nhanh” đến “đánh chắc tiến chắc” buộc bộ đội ta di chuyển những xe pháo sang vị trí khác.

Trời ngày càng tối om, mù mịt cả khu rừng chưa kể đó là thời điểm kéo pháo là nằm trong mùa mưa nên đường trơn trượt, bùn đất khắp nơi rất nguy hiểm cho việc kéo pháo và xấu hơn là pháo bị tuột và hủy hoại cả trận đánh của ta. Vì vậy mỗi khi tiểu đội mình nghỉ chân, Tô Vĩnh Diện luôn nhắc nhở những đồng chí của mình phải kiểm tra pháo kĩ càng, buộc dây cho pháo, chèn bánh cho pháo, suy nghĩ và xem xét từng con dốc, đường đi như thế nào để chỉ hướng cho các đồng đội di chuyển đỡ vất vả.

Người lính của lòng yêu nước và niềm tin cháy bỏng quyết thắng bất diệt

Vào ngày 01/02/1954, đơn vị của Tô Vĩnh Diện (Đại đội 827) tiếp tục kéo pháo về phía Mường Thanh và đường đi lần này rất trơn trượt sau bởi cơn mưa phùn vừa mới tạnh, còn công binh phải dọn đường nhanh để bộ đội kịp thời gian tập kết. Nhận thấy áp lực căng thẳng từ địa hình, tiếng pháo pha trộn cùng tiếng gió rít ném bom của máy bay địch làm cho anh nhiều lần phải kiểm tra pháo, chờ đợi tin tức của đội trưởng và bộ chỉ huy bỗng một đồng chí chính trị viên lên tiếng khích lệ tinh thần của những người lính của ta. Điều này một phần xóa mờ đi những áp lực trước đó của anh Diện. Nghe thấy lời động viên ấy, những chàng lính Cụ Hồ đồng loạt vang lên: “Rõ! Rõ!...Còn người còn pháo! Dù người mất, pháo vẫn phải còn ! ”. Lời hô vang ấy như một nguồn sức mạnh to lớn và càng tô đậm lên lòng yêu nước, nghĩa vụ bảo vệ thiêng liêng ấy cho mỗi người lính.

Tô Vĩnh Diện cùng pháo thủ Nguyễn Văn Chi xung phong đảm nhiệm vị trí điều khiển càng pháo để chỉnh hướng đi cho đơn vị kéo dây giữ pháo và chèn bánh của pháo. Xe pháo dần nhúc nhích từng nhịp hòa với nhịp kéo của bộ đội, cứ thế pháo từ từ đi hết dốc núi đầu tiên đến dốc thứ hai và tiếp đến dốc thứ ba. Đến đây quân Pháp bất ngờ bắn pháo từ Mường Thanh về phía Đại đội của Tô Vĩnh Diện khiến nhiều người hi sinh và đổ gục xuống . Đơn vị của anh cũng không ngoại lệ vài người kéo pháo bị địch bắn trúng, vài người thì cúi rạp xuống để tránh thiệt hại và đúng lúc này sợi dây kéo bị đứt một bên đầy bất ngờ kéo theo những người lính đang cố ghì pháo ngã trượt xuống dốc. Lực giữ pháo yếu đi dù có hàng trăm người cũng không thể đọ lại sức của của xe pháo nặng hàng tấn. Pháo kéo lết những người lính còn lại và lao ầm ầm xuống vực sâu, nhận thấy tình thế vô cùng cấp bách khi thấy đồng chí Chi lái càng bên ngoài cũng bị xe pháo hất văng vào vách núi, đồng đội còn lại đều bị kéo theo hướng pháo khiến anh vô cùng bối rối nghĩ cách cứu “ Con voi sắt ” mà ngày nào anh cũng lau chùi cẩn thận, chăm sóc nó như một con voi chiến của mình mà giờ đây nó đang mất kiểm soát cố chạy thoát khỏi tiểu đội anh. Không còn cách nào khác khi hòn chèn, phanh và sức người cũng không thể đánh bại sức của xe pháo kia, vực sâu dần dần hiện ra trước mắt buộc Tô Vĩnh Diện bỏ càng pháo, chạy nhanh ra trước nòng pháo và hô vang: “Thà hi sinh, quyết bảo vệ pháo” anh ghì người vào bánh xe pháo, lấy hai chân giữ chặt vào gốc cây bên đường để chặn đứng pháo lại. “Con voi sắt” ấy cuối cùng cũng khuất phục trước bản lĩnh và trí tuệ của chàng lính dũng cảm ấy. Nhưng cú va chạm rất mạnh của bánh xe vào phần lưng của Tô Vĩnh Diện khiến cho anh trọng thương nghiêm trọng. Sau khi chèn được bánh xe pháo bằng hòn chèn, đồng chí chính trị viên cùng vài người lính khác chạy đến đưa anh ra khỏi bánh xe pháo và cấp cứu cho anh nhưng đã quá muộn. Trước khi tim ngừng đập anh chỉ mìm cười hỏi những người đồng đội còn lại : “ Pháo có việc gì không anh em? ”. Đây không phải là một câu hỏi bình thường mà đó là kết quả của sự hi sinh bi tráng của anh, bởi đối với anh xe pháo này rất đắt tiền, chắc chắn sẽ giúp rất nhiều trong chiến dịch này của ta, nó chính là món quà, là người bạn mà cấp trên tin tưởng giao cho và bằng mọi giá phải giữ gìn nó bằng cả mạng sống của mình.

Sau sự hi sinh anh dũng của Tô Vĩnh Diện, nhiều người lính đã quyết thề trước mộ anh sẽ chiến thắng những kẻ ngoại xâm và mang hòa bình về với dân tộc mà anh từng ao ước, không những vậy Đại đội của anh cũng rút ra những bài học về sự thận trọng giữ gìn pháo và xem anh là nguồn động lực to lớn để những người lính khác noi theo.

Bên cạnh những tấm gương sáng như Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, Trần Can,… Tô Vĩnh Diện được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Huân chương Quân công hạng nhì, Huân chương Chiến công hạng nhất và được truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 1956 . Hình ảnh về người lính trẻ hi sinh dưới bánh xe pháo không chỉ là một chàng lính dành cả thanh xuân của mình để chiến đấu cho Tổ Quốc mà đó còn là một tượng đài bất tử dạy cho mỗi chúng ta về tinh thần yêu nước lớn đến nhường nào, bất khuất ra làm sao dám dũng cảm đánh đổi ngay cả chính mạng sống của bản thân vì lợi ích chung của cả dân tộc góp phần vào thắng lợi Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, là một trong những chương chói lọi nhất trong thế kỉ XX của Việt Nam ta.

Ngày hôm nay, khi chúng ta được sống dưới bầu trời hòa bình, tấm gương của Tô Vĩnh Diện chính là lời nhắc nhở đanh thép về việc phải sống làm sao mà tuổi trẻ của mỗi chúng ta không được lãng phí và phải dám nghĩ, dám làm đó mới chính là tuổi trẻ có giá trị nhất. Vì vậy, thế hệ trẻ chúng ta ngoài việc hưởng thành quả từ ông cha còn phải mang cho mình sứ mệnh giữ lửa và truyền lửa cho các thế hệ sau. Trong một thời đại khi nhân loại đang đi lên cuộc Cách mạng khoa học công nghệ 4.0, chúng ta phải ra sức phấn đấu để cống hiến cho nước nhà và còn hơn hết phải luôn tỉnh táo, cứng rắn trước các tác động tiêu cực của Toàn cầu hóa, “diễn biến hòa bình”,… luôn sẵn sàng đổi mới, sáng tạo trước những biến động khách quan đó. Là chủ nhân tương lai của đất nước tôi mong rằng các thanh niên trẻ luôn nhận thức được nghĩa vụ của mình, sẵn sàng vững tin theo con đường mà Đảng, Bác và ông cha đã chọn hướng đến thực hiện thắng lợi mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn