Tô Vĩnh Diện và tấm thân chèn pháo cứu hỏa tuyến Điện Biên
Tinh thần xả thân bảo vệ tài sản quân đội của Tô Vĩnh Diện khi dùng chính thân mình chèn bánh pháo cao xạ trên dốc núi nguy hiểm trong chiến dịch Điện Biên Phủ.
Anh hùng Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924 tại xã Nông Trường, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Xuất thân từ một gia đình nghèo, ông tham gia du kích địa phương rồi chính thức nhập ngũ năm 1949. Với bản lĩnh vững vàng và tinh thần trách nhiệm cao, ông được bổ nhiệm làm Khẩu đội trưởng khẩu đội pháo cao xạ 37mm thuộc Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367 – đơn vị pháo cao xạ đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đầu năm 1954, trong quá trình chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, các đơn vị pháo binh được giao nhiệm vụ kéo những khẩu pháo nặng hàng tấn qua các con dốc cao vực sâu vô cùng hiểm trở bằng sức người. Đây là một nhiệm vụ khốc liệt, đòi hỏi lòng dũng cảm và sự phối hợp chính xác tuyệt đối. Đêm ngày 1 tháng 2 năm 1954, trên đường kéo pháo ra khỏi trận địa theo chủ trương "Đánh chắc, tiến chắc" của Bộ Chỉ huy chiến dịch, khẩu đội của Tô Vĩnh Diện di chuyển trên một đoạn dốc cao 60 độ, đường hẹp và vô cùng trơn trượt.
Bất ngờ, một sợi dây tời chính bị đứt, khẩu pháo nặng hơn 2 tấn mất đà trôi nhanh xuống vực sâu. Trong đêm tối mịt mùng, mặc dù dây phụ quấn vào tay kéo ông đi, Tô Vĩnh Diện vẫn cùng đồng chí Nguyễn Văn Chi giữ chặt càng pháo để lái. Nhưng đà trôi của pháo quá mạnh, không thể hãm lại. Trước nguy cơ khẩu pháo – tài sản vô giá của quân đội – bị rơi xuống vực thẳm phá hủy hoàn toàn, Tô Vĩnh Diện đã buông càng lái, lao thẳng thân mình vào phía dưới bánh pháo. Khẩu pháo bị khựng lại nhờ thân mình của ông, ngả tựa vào vách núi và được bảo vệ an toàn.
Khi đồng đội lao đến đòn pháo lên, Tô Vĩnh Diện đã bị thương rất nặng. Câu nói cuối cùng của ông trước khi trút hơi thở cuối cùng là: "Pháo có việc gì không các đồng chí?". Sự hy sinh quả cảm của Tô Vĩnh Diện đã làm xúc động toàn thể cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận Điện Biên Phủ. Ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân năm 1955.



