Tòa soạn báo giữa xà lim, mực pha từ tro bếp
Không giấy, không bút, không mực — chỉ có những mẩu giấy vụn nhặt nhạnh và tro bếp trộn với gạch non — một tờ báo bí mật vẫn đều đặn ra đời giữa bốn bức tường xà lim, mang cái tên nghe như một lời thách thức: Suối Reo
Xuân Thủy (tên khai sinh Nguyễn Trọng Nhâm) sinh năm 1912, là một nhà báo có gần 10 năm cầm bút trước khi bị thực dân Pháp bắt giam. Từ năm 1938 đến 1943, ông liên tiếp bị giam cầm, tra tấn qua nhiều nhà tù khét tiếng như Hỏa Lò, Bắc Mê, và đặc biệt là nhà tù Sơn La — nơi ông bị đày lên lần thứ hai vào năm 1941.
Tháng 2/1941, Chi bộ Đảng trong nhà tù Sơn La quyết định một việc làm táo bạo: xuất bản một tờ báo bí mật để tuyên truyền, giáo dục và động viên tinh thần chiến đấu cho các đảng viên đang bị giam cầm. Với kinh nghiệm làm báo dày dạn, Xuân Thủy được chi bộ tin tưởng giao trọng trách làm chủ bút. Tờ báo được đặt tên "Suối Reo" — theo lời kể của đồng chí Trần Huy Liệu, đơn giản vì ở đất Sơn La, thứ gì cũng khắc nghiệt, chỉ có tiếng suối chảy là vẫn trong trẻo, vẫn đẹp, dù mùa đông lạnh giá.
Điều kiện làm báo trong tù khó khăn đến mức khó tưởng tượng: thực dân Pháp không cho tù nhân giữ giấy bút, anh em phải đấu tranh mãi mới giành được quyền viết thư về nhà, rồi tranh thủ dùng chính số giấy bút ít ỏi đó để bí mật viết báo. Có những đợt, chỉ cần xảy ra chuyện bất thường là toàn bộ giấy bút bị cai ngục tịch thu sạch. Giấy dùng để viết là những mẩu giấy vụn, vỏ bao xi măng nhặt nhạnh được; mực thì tự chế từ tro bếp trộn với gạch non nghiền nhỏ. "Tòa soạn" chỉ là một góc phòng giam ẩm thấp, luôn phải cảnh giác trước sự kiểm soát gắt gao của cai ngục.
Vậy mà từ tháng 5/1941 đến tháng 3/1945, báo Suối Reo vẫn đều đặn ra đời mỗi tháng một kỳ, viết tay, gồm hai trang khổ nhỏ 14x20cm, chuyển tải các chỉ thị của Trung ương, phân tích tình hình chiến sự thế giới, đúc kết kinh nghiệm đấu tranh trong tù và cả những vần thơ nuôi dưỡng tinh thần lạc quan. Chính Xuân Thủy đã viết những câu thơ động viên anh em bạn tù: "Sơn La những núi cùng non/ Dù cho đá lở vẫn còn Suối Reo". Cuối năm 1943, ông được đưa về quản thúc tại quê nhà, sau đó tiếp tục sự nghiệp báo chí cách mạng, trở thành Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà báo Việt Nam.



