Khác

Tội ác của địch đối với tù binh

sự kiện lịch sử

Vĩnh Long27/11/2025Nguyễn Châu Khả Tú (xã Hương Mỹ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tội ác của địch đối với tù binh

Thời gian đầu, thực dân Pháp giao cho lính Âu Phi canh giữ tù binh, về sau Pháp chuyển cho ngụy quyền cai quản. Vì giữ tù binh với số lượng tăng nhanh, trong khi lực lượng địch canh số lượng tù binh tương đối ít, nên chúng chủ yếu tập trung canh giữ tù binh trong trại, không nối loạn. Đồng thời, để tù binh không trốn trại, không nổi loạn. Đồng thời, để tù binh không trốn trại, không nổi loạn. Đồng thời, để tù binh không trốn trại, không nổi loạn. Đồng thời, để tù binh không trốn trại, không nổi loạn. Đồng thời, để tù binh không trốn trại, không nổi loạn. Đồng thời, để tù binh không trốn trại, không nổi loạn.

Tù binh cử Ban Đại diện, nhà bếp, các trưởng phòng phòng người điều hành mọi việc trong trại và cử người đi làm tạp dịch.

Sau trận vượt ngục ngày 8-9-1953 của 54 tù binh tấn công bọn lính gác trong khi dỡ nhà ở ngoài Càng đã bị địch trả thù hèn hạ. Chúng chỉ cung cấp cho Càng gạo mục, mốc và lẫn với sâu, cá khô thối, không có rau xanh. Vì chất lượng lương thực, thực phẩm như vậy nên dẫn đến tai họa cho cả ngàn tù binh.

  • Hàng trăm người bị bị tiêu chảy, kiết lỵ nhưng không có thuốc chữa trị, lại phải ăn gạo mục, cá thối nên bệnh càng tăng không cách gì chữa nổi.

  • Thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là sinh tố và rau xanh. Anh em đã cố gắng hái trái cây ở góc những cây rau dừa, rau má, rau sam, thài lài mọc dại ở quanh trại về nấu ăn. Nhờ đó bệnh tình có đỡ hơn nhưng chúng chỉ được mấy ngày đầu vì rau ít mà người đông nên không đủ, trong khi đó, phía chân rào rau mọc xanh rờn, thì địch có lệnh cấm không cho tù binh tới gần hàng rào 5 mét. Có một người tù thèm rau quá liều tới gần hái vài mấy ngọn, bị địch phát hiện, bắn chết tại chỗ...

  • Bệnh tiêu chảy, kiết lỵ đã giết chết nhiều người. Thêm đó bệnh tê phù cũng ngày càng phát triển và giết hại nhiều tù binh. Ban đầu, tù binh bị phù mặt, chân, đi lại khó khăn; khoảng một tuần sau thì bệnh “tiến vào” bụng, vừa sưng to, vừa đau; rồi bệnh tự nhiên giảm, không thấy đau nữa; nhưng chỉ nửa giờ sau là người bệnh chết vì không có thuốc.

  • Tù binh chết ngày càng nhiều, có ngày người nọ chết chưa kịp đưa đi chôn, người kia đã trút hơi thở cuối cùng. Cảnh chết chóc đè nặng lên tâm tư mọi người.

    Trước tình hình trên, Ban Đại diện đã yêu cầu bọn sĩ quan, có cả quản lý vào xem xét tình hình người bệnh và tình hình lương thực, thực phẩm, đòi chúng phải đối thử gạo tốt hơn. Bọn địch phải công nhận thực tế ấy nhưng lại đổ thừa tại thời tiết mưa gió, biển động không vận chuyển từ đất liền ra được. Chúng an ủi tù binh “hoàn cảnh chiến tranh”, “bảo quản khó khăn, đến lính Sĩ quan Pháp cũng phải ăn cực như vậy, không riêng gì tù binh đâu”.

    Ban Đại diện tổ chức cho anh em đấu tranh, đồng thời vận động anh em khéo trồng rau, cải thiện bữa ăn... Đến trung tuần tháng 10-1953, địch mới cung cấp lương thực, thực phẩm khá hơn. Tù binh dần dần bình phục và số người chết giảm lại. Kết quả có hơn 40 người chết trong đợt này.

    Sau các cuộc vượt ngục của tù binh, địch tổ chức lục soát, đàn áp những người ở lại rất dã man. Đặc biệt, sau cuộc vượt ngục ngày 17-1-1954 (đoàn vượt ngục gồm 20 người, vượt thoát 16 người còn 4 người bị bắt lại), bọn địch đã trút tất cả nỗi giận dữ lên những người bị bắt và còn bị giam. Chúng tra tấn cho đến chết những người bị bắt lại, thiết quân luật toàn trại, đưa thêm lính vào trại, bố trí canh gác ngày đêm...

    Đấu tranh chống nguy quyền lập danh sách tù binh

    Khi thực dân Pháp và quân ngụy tiến hành bàn giao Càng, lính ngụy vào từng trại đối chiếu danh sách, nhận tù binh do thực dân Pháp bàn giao. Nhận thấy bản danh sách giao được ghi một cách sơ sài nên khi nhận bàn giao xong, quân ngụy đã thực hiện âm mưu cho tù binh lập lại tờ khai để qua đó tìm những người lãnh đạo cốt cán trong tù binh.

    Sở Chỉ huy Càng ra lệnh cho các trại phải nhất loạt phiên chế tù thành các đơn vị tiểu đội, trung đội lên đến tiểu đoàn, trung đoàn, lập danh sách nộp cho chúng. Mỗi trại là một trung đoàn, đại diện trường làm trung đoàn trưởng, đại diện phó làm trung đoàn phó.

    Địch chuyển xuống các trại một danh sách mẫu, trong đó ghi rất tỉ mỉ và yêu cầu từng tù binh tự khai, giao cho trung đoàn trưởng, trung đoàn phó thu lại và chuyển cho chúng.

    Đảng ủy Càng và Chi ủy các trại nhận định: đây là âm mưu của địch, dùng bản tự khai này để phân loại tù binh nhằm tìm những tù binh “cốt cán”. Vì vậy, tương kế tựu kế, Đảng ủy chỉ đạo các Chi bộ, tổ Đảng lãnh đạo đảng viên quần chúng lập danh sách biên chế theo như địch yêu cầu, song chỉ là trên giấy tờ còn trong sinh hoạt, quan hệ thực tế hàng ngày ta vẫn theo hệ thống địa phương, gia đình như cũ.

    Về tờ khai, không khai trung thực, mà khai nội dung khác hơn với bản khai sau khi bị bắt két ấn. Đối với tù binh thuộc đối tượng có vấn đề về tư tưởng mà các Chi ủy đang theo dõi, ta chỉ đạo họ khai như trước kia đã khai hoặc khai theo ý muốn. Tất cả các bản khai trên được Ban Đại diện thu gom nhưng không nộp cho địch, mà dùng để thu thập tài liệu về ý định và âm mưu của bọn tề, ngụy, phản động tay sai của địch, phục vụ công tác phòng gian của ta.

    Để có bản tự khai nộp cho địch, Chi ủy cử anh em chép các bản tù binh đã khai vào một danh sách khác tùy từng đối tượng. Khi nhận được các bản khai trên, Ban Tác động tinh thần của địch chất vấn Ban Đại diện, nhưng ta nói dối là tù binh nhiều người không biết chữ nên không tự viết được, số người biết chữ không chịu khai nên phải hỏi họ rồi ghi hộ vào danh sách. Ban Tác động tinh thần của địch thấy bản danh sách không giúp ích được gì cho chúng, nhưng cũng không có cách gì để kết tội anh em nên phải chấp nhận bản ta tự làm.

    Chúng phát lon cấp bậc cho trung đoàn trưởng, trung đoàn phó, nhưng anh em không đeo, nếu chúng có hỏi thì nói “quên”, hoặc tìm cách trả lời khéo cho qua chuyện. Địch thấy không thay đổi được gì nên sau đó lờ đi.

    Đấu tranh chống địch tuyển mộ dân công, âm mưu bắt lính

    Cuối năm 1953, trên chiến trường, thực dân Pháp đang khủng hoảng về quân số... Thực hiện kế hoạch xây dựng 20 vạn ngụy binh... địch tổ chức bắt lính trong các nhà tù, trại giam... Văn thư [của Pháp] còn hướng dẫn các kiểu lung lạc, bịp bợm để người tù chịu theo chúng.

    Thực hiện kế hoạch trên, giữa tháng 11-1953, nhiều tên phòng nhì Pháp đã được phái đến Phú Quốc cùng đại diện Càng tổ chức nói chuyện với tù binh các trại dụ dỗ tù binh đi dân công hoặc bắt lính bổ sung vào quân đội. Nắm được âm mưu của địch, Đảng ủy Càng khẩn trương chỉ đạo các tổ Đảng lãnh đạo các địa phương, gia đình tiến hành giáo dục cho quần chúng không mắc mưu địch...

    Chúng bắt đầu thực hiện kế hoạch tại trại B... kêu gọi tù binh ghi tên đăng ký tham gia “đi dân công hoặc tham gia vào quân đội quốc gia” để thoát khỏi cuộc sống lao tù khổ cực... Hắn vừa nói xong, một tù binh khoảng 30 tuổi người Nam Bộ đứng lên nói: “Chúng tôi là công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa... chúng tôi không đi đâu cả!”.

    Tiếng ồn ào của anh em phản ứng cùng với những tiếng hô “Không đi đâu! Không đi lính!”. Bọn sĩ quan xô vào cùng bọn ác ôn định bắt anh thanh niên vừa phát biểu, nhưng anh em tù binh đã chen lấn làm cho bọn lính không vào đến chỗ anh thanh niên được. Viên Trung tá bẽ mặt và vô cùng tức tối, tên Đại úy Pháp vội vàng rút lui (1). Cuộc đấu tranh chống tuyển mộ dân công, bắt lính của Đảng ủy Càng Cây Dừa đã thắng lợi.

    Khủng bố sau vượt ngục (tiếp theo)

    Ngày 1 tháng 12 năm 1953, ngụy quyền tay sai tiếp quản Càng Cây Dừa và đến giữa tháng 1-1954 thì tiến hành chiến dịch “lật đổ, khủng bố và bắt lính”. Địch mở tiến hành chiến dịch lật đổ, khủng bố và bắt lính, nhăm vào các Ban Đại diện các đợt bắt bớ, khủng bố khoác lác, bắt những người lãnh đạo cốt cán như: chiến dịch tuyển mộ công nhân, lập danh sách tù binh, xây dựng khu P.C.I (khu giam những đảng viên cộng sản), lập Phoay-é, lừa phỉnh các cụ già... Những âm mưu và tội ác địch thực hiện trong các chiến dịch này sẽ được nêu rõ trong phần sau.

    Sau đó, địch xáo trộn, di chuyển tù binh từ trại này sang trại khác, cắt đứt các đường dây, đầu mối liên lạc nhằm phá vỡ các tổ chức của ta và thiết lập một trật tự phát xít ở cả bốn trại giam.

    Địch ra lệnh cấm hết các hoạt động chào cờ, tập thể dục, hoạt động văn nghệ, thể thao, học văn hóa; cấm tù binh trò chuyện và ra lệnh 6 giờ tối khi có tiếng kẻng giới nghiêm, mọi người phải về chỗ ngủ, ngủ theo tiểu đội, không được trò chuyện. Ai vi phạm các quy định đó liền bị đánh đập.

    Đội trật tự được trang bị gậy gỗ cạnh vuông, thường xuyên theo dõi kiểm tra việc tuân thủ trật tự tù binh. Giám thị còn giao trách nhiệm cho bọn trại trưởng dùng bọn trật tự ác ôn ngày đêm tra khảo những người đã bị chúng nhốt ở chuồng cọp và trại biệt lập, nay trả về trại cũ cho bọn tay chân thần dùng mọi cách đánh đập, ép buộc người tù từ bỏ lý tưởng cách mạng để “trở về với chính nghĩa quốc gia”, với mục đích bắt được một số người bổ sung vào quân đội đang cần bị thiếu hụt do bị chết, bị thương tại chiến trường.

    Chúng tra tấn tù binh gần hai tháng (từ trung tuần tháng 1 đến tháng 3-1954). Tổng số người bị sát hại trong thời gian này hơn 100 người.

    Thời gian này, hoạt động của Chi bộ Đảng ở Càng gặp nhiều khó khăn: tù binh chuyển đến bị chia cắt thành bốn trại riêng lẻ, cơ sở Đảng mới tập hợp nên chưa thật sự hiểu và thông cảm lẫn nhau, bọn phản động trà trộn vào trong quần chúng ta chưa nắm được. Mặt khác, tổ chức Đảng bị cô lập hoàn toàn với bên ngoài, không có sự chỉ đạo của cấp trên.

    Thâm độc nhất là địch tổ chức các chiến dịch lớn nhằm thực hiện âm mưu bắt lính, nắm bắt những người lãnh đạo cốt cán như: chiến dịch tuyển mộ công nhân, lập danh sách tù binh, xây dựng khu P.C.I (khu giam những đảng viên cộng sản), lập Phoay-é, lừa phỉnh các cụ già...

    Đấu tranh chống địch trả thù sau cuộc vượt ngục ngày 17-1-1954

    Ngày 17-1-1954, Đoàn vượt ngục có 16 đồng chí gặp được cơ sở cách mạng. Trong 4 anh hy sinh và bị địch bắt lại, có anh Diệp (tức Phúc...) đã bị địch tra tấn, đánh đập một cách dã man... và anh chết ngay khi chúng đang tra tấn. Sau đó, địch đưa xác anh về trại B. Anh em rất đau đớn khi thấy thân thể anh bị đánh đập tan nát...

    Sáng 19-1-1954, bọn chỉ huy Càng bắt đầu khủng bố tù binh để trả thù theo kiểu “giận cá chém thớt”. Trong vòng hơn một tuần lễ, địch gọi tên bắt đi hầu hết cán bộ trong các Ban Đại diện và một số người chúng nghi ngờ... Tổng cộng chúng bắt 54 người đưa về trại biệt lập và chuồng cọp. Chúng gọi đây là một “chiến dịch lật đổ và khủng bố”.

    Trong khi chiến dịch Điện Biên Phủ sắp đến ngày thắng lợi, bọn ngụy quyền cai quản trại giam càng điên cuồng đánh đập tù binh và bắt giam nhiều người vào trại biệt lập. Anh Đập (tên thật là Nguyễn Hữu Cường...) một trong những tù binh bị tra tấn dã man nhất kể lại những ngày bị giam và tra tấn trong trại biệt lập...:

    Khi đưa 54 tù binh vào trại biệt lập, chúng tách ra từng người và đưa đi tra tấn. Địch thân tên Bệu tra tấn từng người. Suốt những ngày ở trong trại biệt lập, anh Vững bị tra tấn một cách dã man, chúng thay nhau đánh, đấm; bắt nằm ngửa xuống đất, dứa dẻ dẩu, dứa dẻ tay chân, đổ nước xà phòng vào miệng bắt anh nuốt, rồi giẫm vào bụng cho phọt nước ra, anh chết ngất, chúng lại dội nước lạnh cho anh tỉnh lại và tiếp tục tra tấn... Anh Vững cương quyết không trả lời, luôn miệng hô “Hồ Chí Minh muôn năm!”... Một tuần sau chúng mới đưa anh về trại A... sau đó chúng mới đưa anh sang trại B và liên tục như vậy cho đến ngày chúng thả những tù binh trại biệt lập về các trại.

    Thời gian này, Đảng ủy Càng hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ... Dần dần tổ chức Đảng trong các trại được ổn định trở lại, tiếp tục lãnh đạo quần chúng đấu tranh.

    Đảng ủy Càng bí mật vạch trần tội ác của bọn trại trưởng và đồng bọn của chúng. Lợi dụng cơ hội này, Đảng ủy phát động quần chúng đấu tranh bằng hình thức bí mật như: rỉ tai nhau có tin cho bọn lính, hạ sĩ quan nghe, tung tin “tức nước vỡ bờ, tù binh quyết không để cho bọn ngụ xuẩn, thối nát ấy đè đầu cưỡi cổ mình...”.

    Vì vậy, cuối tháng 2-1954, Trung tá Đắc đã đến trại biệt lập, thương lượng với các anh Bảy, Thu, Tầm, Vững và một số anh khác, hứa trả các anh về trại và đề nghị các anh làm đại diện trưởng như trước đây...

    Ngày 2-3-1954, Sở Chỉ huy Càng Cây Dừa đưa tất cả bọn trại trưởng và các tên trong tổ chức của chúng ở ba trại sang trại A (sau đổi sang trại D) và hôm sau, trả những người bị giam trong trại biệt lập về lại các trại... Sáng 3-3-1954, tù binh các trại phấn khởi đón những người từ trại biệt lập trở về, mọi hoạt động sinh hoạt lại trở lại như cũ. Như vậy, trong suốt 45 ngày địch khủng bố gắt gao, không có cán bộ, đảng viên nào đầu hàng, phản bội, kể cả quần chúng cũng không mạnh động gây tổn thất cho tổ chức.

    Nguồn : Sách Trại Giam Tù Binh Phú Quốc thời kỳ chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn
    Tội ác của địch đối với tù binh | Câu chuyện thời hoa lửa