TỘI ÁC CỦA ĐỊCH ĐỐI VỚI TÙ BINH
TỘI ÁC CỦA ĐỊCH ĐỐI VỚI TÙ BINH
Thời gian đầu, thực dân Pháp giao cho lính Âu Phi canh giữ tù binh, về sau Pháp chuyển cho ngụy quyền cai quản. Vì số lượng tù binh tăng nhanh, trong khi lực lượng địch canh giữ tù bình tương đối ít, nên chúng chủ yếu tập trung canh giữ để tù binh không trốn trại, không nổi loạn. Đồng thời, không để Việt Minh bên ngoài trại giam tấn công vào phối hợp tù bình trong trại giải phóng tù binh nên chúng cho tù binh tự quản trong các khu giam.
Tù bình cử Ban Đại diện, nhà bếp, các trưởng phòng phân công người điều hành mọi việc trong trại và cử người đi làm tạp dịch.
Sau trận vượt ngục ngày 8-9-1953 của 54 tù binh tấn công bọn lính gác trong khi dỡ nhà ở ngoài Căng đã bị địch trả thù hèn hạ. Chúng chỉ cung cấp cho Căng gạo mục, mốc và lẫn với sâu, cá khô thối, không có rau xanh. Vì chất lượng lương thực, thực phẩm như vậy nên dẫn đến tai họa cho cả ngàn tù binh.
- Hàng trăm người bị bị tiêu chảy, kiết lỵ nhưng không có thuốc chữa trị, lại phải ăn gạo mục, cá thối nên bệnh càng tăng không cách gì chữa nổi.
- Thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là sinh tố và rau xanh. Anh em đã cố gắng hái trụi cả gốc những cây rau diệu, rau má, rau sam, thài lài mọc dại ở quanh trại về nấu ăn. Nhờ đó bệnh tình có đỡ hơn nhưng cũng chỉ được mấy ngày đầu vì rau ít mà người đông nên không đủ, trong khi đó, phía chân rào rau mọc xanh rờn, thì địch có lệnh cấm không cho tù binh tới gần hàng rào 5 mét. Có một người tù thèm rau quá liều lẻn tới hái vội mấy ngọn, bị địch phát hiện, bắn chết tại chỗ....
- Bệnh tiêu chảy, kiết lỵ đã giết chết nhiều người. Thêm đó bệnh tê phù cũng ngày càng phát triển và giết hại nhiều tù binh. Ban đầu, tù binh bị phù mặt, chân, đi lại khó khăn; khoảng một tuần sau thì bệnh “tiến vào” bụng, vừa sưng to, vừa đau; rồi bệnh tự nhiên giảm, không thấy đau nữa; nhưng chỉ nửa giờ sau là người bệnh chết vì không có thuốc.
Tù binh chết ngày càng nhiều, có ngày người nọ chết chưa kịp đưa đi chôn, người kia đã trút hơi thở cuối cùng. Cảnh chết chóc đè nặng lên tâm tư mọi người.
Trước tình hình trên, Ban Đại diện đã yêu cầu bọn sĩ quan, có cả quân y sĩ vào xem xét tình hình người bệnh và tình hình lương thực, thực phẩm, đòi chúng phải đổi thứ gạo tốt hơn. Bọn địch phải công nhận thực tế ấy nhưng lại đổ thừa tại thời tiết mưa gió, biển động không vận chuyển từ đất liền ra được. Chúng an ủi tù binh “hoàn cảnh chiến tranh", “bảo quản khó khăn, đến binh sĩ Liên hiệp Pháp cũng phải ăn cực như vậy, không riêng gì tù binh đâu",
Ban Đại diện tổ chức cho anh em đấu tranh, đồng thời vận động anh em khỏe trồng rau, cải thiện bữa ăn... Đến trung tuần tháng 10-1953, địch mới cung cấp lương thực, thực phẩm khá hơn. Tù binh dần dần bình phục và số người chết giảm lại. Kết quả có hơn 40 người chết trong đợt này.
Sau các cuộc vượt ngục của tù binh, địch tổ chức lục soát, đàn áp những người ở lại rất dã man. Đặc biệt, sau cuộc vượt ngục ngày 17-1-1954 (đoàn vượt ngục gồm 20 người, vượt thoát 16 người còn 4 người bị bắt lại), bọn địch đã trút tất cả nổi giận dữ lên những người bị bắt và còn bị giam. Chúng tra tấn cho đến chết những người bị bắt lại, thiết quân luật toàn trại, đưa thêm lính vào trại, bố trí canh gác ngày đêm...
Ngày 1 tháng 12 năm 1953, ngụy quyền tay sai tiếp quản Căng Cây Dừa và đến giữa tháng 1-1954 thì bắt đầu tiến hành chiến dịch “lật đổ, khủng bố và bắt lính”. Địch mở các đợt bắt bớ, khủng bố khốc liệt, nhằm vào các Ban Đại diện hợp pháp và những người chúng nghi là “đầu sỏ” của Việt Minh, bắt giam vào trại biệt lập và chuồng cọp. Chúng lật đổ toàn bộ bộ máy đại diện do tù binh bầu ra và dựng lên bộ máy đàn áp, gồm những tên nguyên là tay sai cũ như tề, ngụy, đảng phái phản động, gián điệp, chỉ điểm, rồi phong cho bọn này làm trại trưởng, trại phó các trại, cho nắm giữ các chức trưởng ban, đại đội trưởng, bếp trưởng, thủ kho, bán căng tin... Bọn này vào tù vì tranh giành ganh ghét nhau, nhưng đều có thâm thù cách mạng, ra đảo chúng ngấm ngầm liên kết với nhau, có tên đã công khai nhảy ra theo địch để tìm dịp “lập công”, trả thù cách mạng.
Sau đó, địch xáo trộn, di chuyển tù binh từ trại này sang trại khác, cắt đứt các đường dây, đầu mối liên lạc nhằm phá vỡ các tổ chức của ta và thiết lập một trật tự phát xít ở cả bốn trại giam.
Địch ra lệnh cấm hết các hoạt động chào cờ, tập thể dục, hoạt động văn nghệ, thể thao, học văn hóa; cấm tù binh trò chuyện với nhau và ra lệnh 6 giờ tối khí có tiếng kẻng giới nghiêm, mọi người phải về chỗ ngủ, ngủ theo tiểu đội, không được trò chuyện. Ai vi phạm các quy định đó liền bị đánh đập.
Đội trật tự được trang bị gậy gỗ cạnh vuông, thường xuyên theo dõi kiểm tra việc tuân thủ trật tự tù binh. Giám thị còn giao trách nhiệm cho bọn trại trưởng dùng bọn trật tự ác ôn ngày đêm tra khảo những người đã bị chúng nhốt ở chuồng cọp và trại biệt lập, nay trả về trại cũ cho bọn tay chân thi nhau dùng mọi cách đánh đập, ép buộc người tù từ bỏ lý tưởng cách mạng để “trở về với chính nghĩa quốc gia”, với mục đích bắt được một số người bổ sung vào quân đội đang ngày càng bị thiếu hụt do bị chết, bị thương tại chiến trường.
Chúng tra tấn tù binh gần hai tháng (từ trung tuần tháng 1 đến tháng 3-1954). Tổng số người bị sát hại trong thời gian này hơn 100 người.
Thời gian này, hoạt động của Chi bộ Đảng ở Căng gặp nhiều khó khăn: tù binh chuyển đến bị chia cắt thành bốn trại riêng lẻ, cơ sở Đảng mới tập hợp nên chưa thật sự hiểu và thông cảm lẫn nhau, bọn phản động trà trộn vào trong quần chúng ta chưa nắm được. Mặt khác, tổ chức Đảng bị cô lập hoàn toàn với bên ngoài, không có sự chỉ đạo của cấp trên.
Thâm độc nhất là địch tổ chức các chiến dịch lớn nhằm thực hiện âm mưu bắt lính, nắm bắt những người lãnh đạo cốt cán của ta như: chiến dịch tuyển mộ công nhân, lập danh sách tù binh, xây dựng khu P.C.I (khu giam những đảng viên cộng sản), lập Phoay-ê, lừa phỉnh các cụ già... Những âm mưu và tội ác địch thực hiện trong các chiến dịch này sẽ được nêu rõ trong phần sau.



