Tôi đã không Bóp có 2
Nghe tên lính ngụy giải bày, tim tôi chùng xuống. Có cái gì như là nỗi xót xa. Không phải sự thương hại, càng không phải sự ra vẻ ta đây cao thượng, đạo đức. Nó cao đẹp hơn thế, nó linh thiêng hơn thế - Đấy là tình người, là sợi dây liên kết giữa những con người cùng máu đỏ, da vàng, cùng chung nòi giống Việt. Với tất cả lòng tự trọng, tôi thề rằng, khi ấy dù tên lính ngụy có mang vũ khí, dù hằn không van xin, tôi cũng không bóp cò khi bên hắn là người vợ với vẻ run sợ vì sự hoảng loạn đang bế trên tay một sinh linh còn đỏ hỏn.
- Anh đứng lên đi. Anh có mang quần áo dân sự theo không?
- Thưa ông, tôi không mang theo chi cả.
- Anh bỏ chiếc áo có cấp hàm và phù hiệu đơn vị đi. Tôi không bắn anh đâu. Tôi cho vợ chồng anh đi. Về đến Cư Jút hãy ra trình diện với Ban Quân quản. Nhớ chưa.
Tên lính ngụy ngoan ngoãn cởi áo. Hắn định đưa cho vợ cầm nhưng nghĩ thế nào hắn lại dằng lại và vứt chiếc áo xuồng dòng Sêrêpôk đang cuộn sôi. Thấy hắn cởi trần trong đêm sương, lòng tôi cuộn lên cái gì đó như là sự thương cảm. Tôi cởi áo ngoài, rồi cởi áo lót trong đưa cho hắn.
- Anh mặc tạm chiếc áo lót này rồi đi đi.
Hắn đưa tay cầm chiếc áo lót của tôi, mặc vào người. Bất chợt hắn dang rộng hai tay ôm lấy tôi, khóc nức nở. Nước mắt hắn cứ tuôn như vòi nước không khóa, thấm cả sang vai tôi. Hắn khóc dữ quá làm tôi cũng rưng rưng. Lý trí của một người lính cách mạng mách bảo tôi rằng, không được khóc, không được yếu đuối. Tôi vội quay mặt sang một bên, cố giấu dòng nước mắt cứ trực trào ra bất cứ lúc nào.
- Anh đưa vợ con đi đi. Nhớ lời tôi dặn nghe chưa.
Vợ chồng tên lính ngụy lầm lũi bước đi dưới ánh sáng bàng bạc của trăng khuya. Tôi nhìn theo với bao trăn trở, nghĩ suy. Sực nhớ trong túi có 2 thanh lương khô tôi mang theo ăn đêm. Tôi nói to:
- Đứng lại.
Hai vợ chồng dừng lại. Cô gái bước lên trước chồng như để che chắn, miệng lý nhí:
- Tôi cắn rơm, cắn cỏ xin ông làm phúc, tha cho chồng tôi.
- Cô cầm thanh lương khô này ăn tạm, lấy sức mà đi và để có sữa cho cháu bé bú – tôi đưa bánh lương khô cho cô gái.
- Đội ơn ông. Từ chiều đến giờ vợ tôi chưa ăn gì – Tên lính ngụy nói.
Dường như nước mắt hắn lại rơi. Cả vợ hắn nữa. Cô lí nhí: “Cảm ơn ông cộng sản”.
Sáng hôm sau, tôi kể chuyện này với Đỗ Trọng Kiềm. Chẳng biết Kiềm có nói chuyện với ai không mà chiều hôm ấy, tiểu đội trưởng Khánh (quê Ninh Bình) bảo tôi lên gặp chính trị viên Thực. Vừa lên khu nhà mái tăng của đại đội, ông Thực nhìn tôi với vẻ mặt hằm hằm:
- Cậu làm ngay bản tường trình về ca gác tối qua rồi mang lên cho tôi. Cậu có biết trên đang cần có tù, hàng binh địch để khai thác tin tức, tình hình trong thị xã không? Hay hắn cho cậu cái gì mà cậu để hắn đi dễ dàng như vậy…? Kỷ luật chiến trường cậu để đâu?
Ông Thực nói một thôi một hồi, cứ như súng bắn liên thanh. Giời ạ. Ngày ấy tôi là thằng lính tò te, có quan tâm gì việc cấp trên cần khai thác, khai hóa gì đâu. Rõ là cái số củ chuối. Giờ mới thấm câu “bờ vách có tai”.
Ngồi trên chiếc võng, phía trước là cái bàn nhỏ làm bằng mấy cây le nhỏ sắp lại, đại đội trưởng Ý nhìn tôi với con mắt cảm thông, thấu hiểu rồi nhìn ông Thực:
- Anh cứ để cậu ấy bình tĩnh kể lại đầu đuôi sự việc đã nào.
Rốt cuộc, tôi vẫn phải viết bản tường trình gửi cho chính trị viên Thực. Nhưng rôi tất cả cũng êm xuôi. Chắc có sự can thiệp của đại đội trưởng Ý. Tôi nghĩ thế, bởi sau đó, chính đại đội trưởng Ý điều tôi lên làm liên lạc cho ông.
Hai ngày sau, đơn vị tôi bắt được 3 tên lính ngụy đang trốn trong một bụi rậm ở nương sắn. Có hai tên bị thương. Chẳng nhớ sau đó đơn vị giải quyết thế nào. Hôm rồi nhắc lại chuyện ấy trên facebook của đồng đội Trần Hữu Phong (quân lực e574) thì nhận được comen của anh Phạm Xuân Soa, rằng: “Tôi y tá C2, C trưởng Ý và chính trị viên Thực là người trực tiếp bắt 3 tên lính ngụy đó (cùng anh Cảnh trung đội trưởng). Sau đó tôi băng bó cho 2 lính ngụy đó và sau đó cho họ ra trình diện với ban quân quản tại nhà ông Xuyến ấp trưởng”. (nguyên văn tin nhắn của anh Soa).
Chà, tay Soa này có trí nhớ khủng khiếp. Nửa thế kỷ rồi mà vẫn nhớ tên của ấp trưởng. Bái phục, bái phục.
Ngay sau khi giải phóng Ban Mê Thuột, đơn vị tôi được lệnh cơ động về Bù Đăng để bảo đảm cầu 38. Xong, lại tiếp tục hành quân vào sửa chữa cầu Sông Bé (vì địch đã đánh sập nhịp giữa khi rút chạy). Đồng thời làm ngầm cho xe tăng ta qua sông Bé tiến về Chơn Thành, Lộc Ninh. Tại đây, thằng bạn cùng xã Vũ Văn Tưởng và 4 thằng bạn khác bị thương vì dính mìn. Hôm đó tôi tháp tùng đại đội trưởng Ý đi vào căn cứ của tỉnh đội Phước Long để hợp đồng, hợp tác gì đó. Tôi không quan tâm. Chỉ quan tâm đến mấy luống đậu đũa của khu căn cứ. Một cô du kích hái cho tôi một bó mang về. Sướng run người.
Hơn 50 năm trôi qua, tôi đã đi đến tận cùng những vùng đất mới nhưng câu chuyện trong đêm gác ấy vẫn theo tôi mãi. Người lính VNCH ấy bây giờ ở đâu? Nếu vô tình đọc được statuts này, mong anh hãy để lại một comen. Chẳng để làm gì cả. Chỉ là để hai thằng lính ở hai chiến tuyến năm xưa một lần nữa được ôm nhau và… khóc./.



