Tôi không đi tìm lịch sử, nhưng lịch sử đã gọi tôi lên đường
Tôi là Trần Thị Điểm, người thôn Tả Hà 2.
Tôi sinh năm 1949. Khi nhập ngũ vào tháng 9 năm 1968, tôi không nghĩ mình đang bước vào lịch sử. Tôi chỉ nghĩ rất đơn giản: làng này còn người đi được thì mình còn phải đi.
Năm ấy, miền Bắc không có mặt trận rực lửa như miền Nam, nhưng bom thì rơi khắp nơi. Máy bay Mỹ đánh cầu, đánh đường, đánh kho, đánh cả những xóm nhỏ chẳng có tên trên bản đồ. Người ta nói nhiều đến chiến thắng, còn chúng tôi thì nói với nhau nhiều hơn về việc hôm nay đường có thông không, đêm nay xe có qua được không.
Tôi là chiến sĩ binh nhất. Cấp bậc thấp, công việc không có gì để ghi thành chiến công. Nhưng nếu hỏi tôi đã làm gì trong những năm ấy, tôi có thể nói rất rõ: tôi đã làm những việc không cho phép mình nghỉ.
Có những ngày, tôi không nhớ mình đã ngủ lúc nào. Ban ngày sửa đường, ban đêm trực gác. Máy bay đến thì xuống hầm, bom vừa dứt là lên ngay. Không ai hô lệnh, cũng chẳng ai cần thúc. Chúng tôi quen rồi. Chậm một chút là xe đứng lại, mà xe đứng lại thì miền Nam sẽ thiếu một phần máu.
Tôi nhớ có một buổi tối mưa rất to. Đất sũng nước, hố bom vừa lấp xong thì lại sạt. Chúng tôi đứng thành hàng, chuyền tay từng rổ đất. Tay run vì lạnh, bụng đói cồn cào. Có chị ngã khuỵu xuống, không phải vì bom, mà vì kiệt sức. Nhưng chỉ một lát sau, chị lại đứng lên, phủi bùn, tiếp tục chuyền. Không ai bảo ai, nhưng ai cũng hiểu: ngã thì đứng dậy, vì phía sau không có người thay.
Là con gái, tôi không quen kể khổ. Nhưng có những thứ chỉ người trong cuộc mới hiểu. Những ngày đến tháng, không có thuốc, không có đồ thay. Những đêm lạnh, áo mỏng, nằm co trong hầm cá nhân nghe tiếng máy bay gầm trên đầu. Có lúc tôi nghĩ: nếu mình chết ở đây, chắc mẹ không biết mình đã chịu những gì. Nghĩ vậy thôi, rồi lại thôi. Vì còn sống thì còn việc phải làm.
Tôi không nhớ mình đã chứng kiến bao nhiêu lần bom nổ. Chỉ nhớ có những lần đất rung lên rất mạnh, tưởng như tim cũng rung theo. Có người bị thương vì bom sót, có người không kịp tránh. Chúng tôi không có thời gian để khóc lâu. Khóc xong thì đường vẫn phải thông.đ
Từ 1969 đến 1971, chiến tranh có lúc lắng xuống, nhưng không bao giờ yên hẳn. Chúng tôi vừa làm nhiệm vụ, vừa sản xuất, vừa sẵn sàng khi có tình huống. Không ai nói ra, nhưng trong lòng mỗi người đều biết: mình đang đứng ở phía sau của một cuộc đánh lớn.
Đến tháng 5 năm 1971, tôi xuất ngũ. Không có lễ lạt gì nhiều. Tôi xếp lại tư trang, nhìn đôi bàn tay chai sạn của mình, tự nhiên thấy lạ. Ba năm trước, đôi tay này chỉ quen cấy lúa, hái rau. Ba năm sau, nó đã quen với cuốc xẻng, cáng thương, và cả những đêm không ngủ.
Tôi trở về thôn Tả Hà 2, làm lại một người phụ nữ bình thường. Nhưng có những điều không trở lại như cũ nữa. Tôi không còn sợ bóng tối. Tôi không giật mình trước tiếng sấm. Và tôi hiểu rất rõ giá trị của hai chữ “bình yên” – vì tôi đã sống trong những ngày không có giờ nghỉ để giữ lấy nó.
Giờ đây, khi kể lại, tôi không mong được gọi là anh hùng. Tôi chỉ mong người ta nhớ rằng: đằng sau mỗi đoàn quân ra trận, đã có những người phụ nữ âm thầm đứng suốt những năm tháng ấy, không cần ghi tên, chỉ cần con đường không đứt.



