quansuvn | 
| Thuỷ quân Sông Lô thời chống Pháp xâm lược (1949-1954)« Trả lời #16 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2021, 01:42:16 pm » | Khoá 1 học viên Thuỷ quân chúng tôi có hai đại đội, hình thành một tiểu đoàn do anh Trần Lưu Phương làm tiểu đoàn trưởng và anh Khổng Hiệu làm chính trị viên. Hai đại đội trưởng là các anh Nghiêm Xuân Hùng và Lê Trường Đa. Còn các trung đội trưởng là anh Dương Đình Ấu, Trần Kỳ, Trần Hùng... đều đã tốt nghiệp khoá 4 trường Lục quân Trần Quốc Tuấn... Sau khi làm việc với các thủ trưởng Hiệu bộ và Ban chỉ huy tiểu đoàn học viên, anh Quế tập họp chúng tôi ở sân tiểu đoàn bộ và làm thủ tục bàn giao biên chế số anh em học viên mới chúng tôi về các đơn vị. Tôi được phân công về tiểu đội anh Hà Văn Ngữ (to kều), nằm trong trung đội anh Dương Đình Ấu, thuộc đại đội 2 của anh Lê Trường Đa và mau chóng hoà nhịp với sinh hoạt của đơn vị. Khoảng 10 ngày sau thì khoá học đầu tiên khai giảng: toàn tiểu đoàn tập trung ở hội trường làm lễ khai mạc, ngoài các anh lãnh đạo của cơ quan Hiệu bộ của trường, còn có cán bộ Bộ Tổng Tham mưu về huấn thị và đọc quyết đinh, đại biểu học viên lên phát biểu và hứa hẹn. Buổi lẽ rất trang nghiêm, trọng thể, động viên được khí thế phấn khởi của toàn trường.
Bước "cày vỡ":
Sau đó cuộc đời lính học viên Thuỷ quân khoá 1 của chúng tôi nghiêm túc bước vào học tập. Tháng đầu tiên học về "điều lệnh tác phong" xây dựng quân đội chính quy, sẵn sàng chiến đấu, phải nói là khá "căng", nhất là hầu hết anh em chúng tôi đều là học sinh mới thoát ly gia đình bước vào cuộc sống tập thể với kỷ luật nhà binh. Các anh chỉ huy bảo chúng tôi còn bỡ ngỡ, nhưng sau 1 tháng tân binh, các anh ấy "luộc cho ra bã" thì cũng quen dần. Để rèn luyện tác phong ban đầu, đơn vị đề ra các mục tiêu phấn đấu cho chúng tôi trong từng tuần lễ một để thi đua thực hiện như: tuần lễ kỷ luật; tuần lễ nhanh chóng; tuần lễ báo động; tuần lễ lễ tiết tác phong.... Sau mỗi tuần nội dung học tập đều có sơ kết, tổng kết, nhận xét cá nhân và phân đội, có biểu dương để phát huy các mặt ưu điểm; phân tích, phê phán các mặt khuyết điểm. Đây là tháng học tập đầy gian khó đối với chúng tôi, nếu gọi là "môn học" thì không cao xa gì, nhưng làm được đều khó khăn vất vả. Thật vậy, chúng tôi đang tuổi ăn, tuổi ngủ, quen sinh hoạt tự do mà đưa ngay vào khuôn phép thì thật là khổ sở, luôn bị phạt. Ở đây, nhất nhất mọi cái đều phải đúng quy định, đúng giờ giấc, đúng hiệu lệnh của một tập thể thống nhất, sai là phạt, mà sao lắm cách phạt thế? đủ mọi hình thức: phạt đứng nghiêm, phạt chạy, phạt bò... tuỳ theo nặng nhẹ mà bắt mang cả ba lô, vũ khí hay không. Thế mà anh em chúng tôi chẳng ai kêu ca phàn nàn gì. Mình sai thì mình phải chịu, phạt xong lại chuyện trò nổ như pháo ran. Thời kỳ đầu chúng tôi còn mang súng gỗ, có lần ba sự việc cùng xảy ra: tôi vô ý đánh rơi súng, Quảng "móm" thì khoét súng làm điếu cày, còn Tâm "xổm" lấy súng làm ghế ngồi bị "xê trưởng" bắt gặp, cả ba chúng tôi phải đeo ba lô trườn ba vòng quanh sân, cả "xê" ngồi nhìn cười rúc rích, song chúng tôi đều hiểu rằng phạt là để xây dựng ý thức bảo quản vũ khí cho anh em "súng là vợ, đạn là con". Gay go nhất là ”tuần báo động", có đêm báo động hai, ba lần, rèn luyện cho chúng tôi ngăn nắp gọn gàng, luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Mỗi lần nghe tiếng còi báo động, đứa nào đứa nấy mặc quân phục cho nhanh, tháo và buộc màn cho nhanh, thu xếp đồ dùng, chăn màn và buộc ba lô cho nhanh, rồi đi giày cho nhanh và vác súng đeo ba lô ra tập họp, rồi chạy đều hành quân, nếu để lôi thôi rơi rớt là bị phạt; nhiều lần vừa qua một lần báo động, về mắc màn thiu thiu ngủ thì lại báo động, đêm ngủ nơm nớp không yên, có nhiều anh ngủ không dám bỏ chăn ra đắp, hay màn thì không dám mắc, cứ lồng sẵn bốn góc màn vào bốn đầu chân tay, hễ khi có cán bộ đi kiểm tra ban đêm thì giơ cả bốn vó lên, nhưng rồi bị phát hiện, vẫn cứ phạt. Phần nhiều thiếu ngủ, ban ngày anh em ngồi họp hành cứ gà gật. Chúng tôi thường bảo nhau đây là một tháng "cày vỡ". Câu nói hình tượng này rất đúng nếu ví anh em học sinh chúng tôi như những mảnh đất còn hoang sơ khô rắn ắt phải chịu sự tác động mãnh liệt khi phải cày vỡ nhào luyện cho thuần thục và ví các anh cán bộ nhà trường như những anh thợ cày ắt không khỏi phải tốn bao nhiêu công sức cực nhọc để biến những mảnh đất hoang sơ thành hữu ích. Cho đến hôm nay tôi vẫn còn nhớ mãi anh Lê Trường Đa, thủ trưởng đại đội của tôi, người Liên khu 5, da ngăm ngăm đen, miệng nhỏ, người cao to cân đối, động tác yếu lĩnh rất chuẩn xác mẫu mực, tư thế tác phong nghiêm túc đĩnh đạc. Anh ít nói và có vẻ hơi "khô", làm cho học viên kiêng nể, nhưng rất giàu tình cảm, thương yêu và chăm sóc anh em học viên chu đáo. Đại đội tôi có 3 trung đội, các anh trung đội trưởng đều được qua đào tạo chính quy, làm việc nhiệt tình và mẫu mực, chăm nom thương yêu học viên; mỗi anh một vẻ: anh Dương Đình Ấu người bé nhỏ nhưng hô rất to và động tác cứng rắn gần gũi anh em, tính tình thẳng thắn nhưng hơi nóng, có điều gì không vừa ý là anh đỏ mặt nói ngay; anh Trần Kỳ, người tầm thước điềm đạm, nước da mai mái xanh, tính tình dịu dàng hay cười; anh Trần Hùng dáng thư sinh, đẹp trai, hát hay, tuổi đời còn trẻ, có dáng con nhà khá giả, rất thân với anh ruột tôi là anh Lê Quảng và có lần anh Quảng đã đến thăm tôi và anh Trần Hùng, làm cho giữa tôi và anh Trần Hùng gần gũi nhau hơn. Đến nay cả ba anh trung đội trưởng đều đã hy sinh trong chiến đấu ở chiến trường duyên hải Đông Bắc.
Sau một tháng học tập điều lệnh, tác phong, chúng tôi bắt đầu học tập chuyên môn phân chia làm ba ngành là hàng hải, điện cơ và tín hiệu. Tôi được xếp vào học ngành hàng hải. Lúc đầu lên lớp nghe giảng cũng có nhiều khó khăn bỡ ngỡ khó hiểu, nhưng rồi vừa học vừa hành cũng vỡ dần ra. Các thày dạy chuyên môn theo giờ có chương trình cụ thể, việc học tập chuyên môn xen lẫn với rèn luyện kỷ luật xây dựng chính quy và hoạt động văn nghệ được sắp xếp rất hợp lý. Nội dung chương trình của môn hàng hải gồm có:
- Tín hiệu: bằng còi, đèn, cờ tay do thầy Oanh giảng dạy. Tôi theo học môn này rất hứng thú và đạt kết quả nên đã được trợ giúp thầy giáo trong các giờ luyện tập thực hành.
- Nơ, nút: do thầy Vỵ đảm nhiệm hướng dẫn, tôi học cũng rất nhanh và nắm chắc các thao tác, có thể là do trước đây khi còn ở nhà tôi được thầy tôi dạy đan lát ít nhiều. Khi sát hạch kiểm tra hai môn trên tôi đểu đạt điểm cao.
- Chèo thuyền: theo học môn này tôi được gặp lại thầy Quế, người mà tôi đã từng ngưỡng mộ, nơi luyện tập của chúng tôi là sông Lô và sông Chảy. Tập cả tiểu đội trên một chiếc thuyền, người cầm lái nhìn về phía trước, hai dãy người chèo thuyền về hai bên và quay mặt vào người chỉ huy; đầu tiên là chèo cạn theo động tác thống nhất tám người như một, tạo nên lực đẩy tổng hợp: khi nắm được yếu lĩnh mới chèo dưới nước, thuyền đi rất nhanh và mạnh, có thể đi ngược dòng sông Lô. Khi cần cập bến phải có yếu lĩnh động tác chuẩn bị, quay cho mũi thuyền ngược dòng nước, nếu không thì thuyền sẽ bị dòng nước đẩy đâm vào bờ, hoặc tạo thành lực cản làm lật thuyền như chơi, trong quá trình luyện tập không phải là ít "học sinh thuyền trưởng" đã cho anh em đồng đội uống nước sông Lô. Tôi còn nhớ có một lần học nụ thuyền con, chỉ dùng một dầm ở phía đuôi vừa ngoáy đẩy thuyền đi vừa lái. Trông thì thấy đơn giản nhưng khi thực hành thì không phải là đễ. Khi mọi người lên bờ nghỉ giải lao, anh Quảng "móm" quê Bắc Ninh, học tú tài tưởng bở, hứng lên lẻn xuống bến tháo thuyền ra để nụ thử; nhưng vì sức khoẻ và kỹ thuật chưa tốt, nước lũ tháng 5 của dòng sông Lô đã đưa anh ra giữa sông thì anh em mới phát hiện, cuống quýt lo âu. Thầy Quế không chần chừ lao ngay xuống sông bơi theo dòng lũ ra kịp và leo lên thuyền, rồi bằng động tác thuần thục chỉ 15 phút sau đã đưa được thuyền vào bờ. Ai nấy thở phào nhẹ nhõm, nhưng chúng tôi cũng bị thầy xạc bằng một tràng tiếng Pháp không lấy gì làm nhẹ nhõm cho lắm. Còn "ông Tú móm" thì bước theo sau, mặt còn tái mét cúi xuống nói "Em xin lỗi thầy", đến khi về doanh trại thì không còn tán dóc như mọi hôm nữa. Học hàng hải bằng tàu thuyền trên sông là khoa mục trọng tâm của khoá học nên ai nấy đều chăm chỉ học tập, tuy rằng luyện tập rất mệt và thường ăn đói. Phải nói là thầy Quế rất giỏi về nghề sông nước này và huấn luyện có bài bản, rất nhiệt tình với học viên, làm cho anh em chúng tôi hào hứng học tập và đạt kết quả tốt, không những thế thầy còn để lại cho chúng tôi nhiều ấn tượng tốt về đạo đức tác phong của một người cán bộ phụ trách, người chỉ huy giản dị, khiêm tốn, giàu tính nguyên tắc và quyết tâm khi làm nhiệm vụ. |