Khác

TÔI VÀO LÍNH THỦY CỤ HỒ

Ngày 23 tháng 1 năm 1994, một số anh em nguyên là Lính Thuỷ sông Lô chuyển sang Trung tâm pháo binh 45, gặp nhau nhân dịp mừng nhà mới của anh Đặng Luyến, anh Đỗ Sâm (bạn Thuỷ quân khoá 1) nhắc tôi: "Này cậu Loát, chưa thấy có bài cho tập san lính thuỷ sông Lô đấy nhé...". Đang dắt xe ra cửa tôi liền đáp "sẵn sàng, có ngay". Thế là suốt dọc đường về, những hình ảnh tươi trẻ của tôi "Anh lính thuỷ Cụ Hồ" cách đây hơn bốn thập kỷ cứ nối nhau tái hiện lại trong tôi như một cuốn phim sinh động và cu

29/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Vào thuỷ quân - Xuôi đò dọc về căn cứ phố Giàn:

Sau khi trúng tuyển, tôi đem việc đăng ký tòng quân ra thưa chuyện, thầy và bầm tôi lặng đi. Tôi đang lúng túng chưa biết trình bày tiếp như thế nào, thì thầy tôi, vốn học nho, hiểu rộng và thường đưa ra ý kiến quyết định, đã chậm rãi nói trước: "Đất nước đang cần thanh niên lên đường chiến đấu, nay con đã mười tám tuổi rồi, còn ờ nhà để học hành cũng không ổn, thầy đồng ý để con vào bộ đội, khi nào đất nước yên lành thì học lại vậy...". Rồi bầm tôi cũng nghẹn ngào tiếp lời: "Anh Quảng con đã thoát ly từ năm 45, sang năm 46 thì bọn Quốc dân Đảng bắn bị thương ở mặt trận Yên Kỳ, ở nhà chỉ có con là lớn, giúp đỡ được nhiều việc, nay con lại đi nốt, ở nhà thầy, bầm thì già và bốn em con còn nhỏ, rất neo bấn, nhưng nay Tổ quốc cần đến con và thầy con cũng đã đồng ý thì bầm cũng không giữ con được. Con đi phải biết giữ gìn sức khoẻ, bầm nhớ con nhiều lắm...". Rồi bầm tôi nghẹn tắc, lau nước mắt, không nói nên lời... Thế là gia đình tôi đã đồng ý, lòng tôi nhẹ đi vì được tòng quân, nhưng lại trào dâng nỗi thương nhớ thầy bầm và các em day dứt và lại đến lượt lo lắng thắc thỏm là liệu đi lần này không biết tôi có được gặp lại anh Quế để xin được vào Thuỷ quân không?


Ngày 16/1/1950 chúng tôi được nhà trường tổ chức lễ xuất quân cùng với anh chị em của trường trung học kháng chiến. Ai nấy đều cảm thấy vinh dự và xúc động vì cuộc đời lính bắt đầụ từ đây... Chia tay gia đình cùng bạn bè và bà con địa phương, tất cả anh chị em chúng tôi cùng đi bộ lên thị trấn Sơn Dương, theo sự hướng dẫn của đoàn tuyển sinh. Thật là vui, lần đầu tiên ăn tập thể, ngủ tập thể, hát tập thể và đi cũng tập thể, chúng tôi quên cả mệt... Đến Sơn Dương, cả đoàn dừng lại, như có linh tính báo trước: giờ chia tay đã đến, những chàng trai, cô gái thư sinh tươi trẻ như những bông hoa ríu rít như bầy chim non, sao mà quyến luyến nhau đến thế?... Rồi như những buổi lửa trại chia tay trong lớp, trước kỳ nghỉ hè, chúng tôi thân ái nắm tay nhau hát bài tạm biệt... Ban tuyển sinh đã làm việc, nhưng còn nhiều anh chị em vẫn còn rầm rì dở dang câu chuyện hoặc còn tranh thủ ghi nốt cho nhau mấy dòng nhật ký. Đang hồi hộp chờ đợi thì từ Ban tuyển sinh vọng xuống "Lê Quang Loát ! về đoàn Thuỷ quân!". Ôi vui sướng biết bao! đúng nguyện vọng rồi. Lòng tôi như mở cờ, bắt tay vội mấy anh em bên cạnh, xách ba lô đứng lên đi về nơi tập kết của đoàn Thuỷ quân, vừa thầm cảm ơn anh Trần Duy Hợi là người trước cùng học ở trường Vĩnh Chân, rồi trường Hùng Vương, nay cũng tham gia vào Ban Tuyển sinh lần này và đã được tôi rỉ tai đề nghị khi lên đường. Tồi cứ thầm cảm ơn anh Hợi mãi vì tổng số học sinh của cả hai trường Hùng Vương và Kháng chiến chúng tôi ra đi đợt này phải kể đến trên một trăm người cả nam lẫn nữ, nhưng biên chế về trường Thuỷ quân khoá 1 lần này vẻn vẹn chỉ có mười hai anh em chúng tôi thành một tiểu đội, gồm có các anh: Đinh Văn Chí (Chí pheo), Ngô Thế Lãng (Lang bột), Đỗ Sâm (Sâm be), Nguyễn Văn Tiến (Tiến lai), Trần Quang Hậu (Hậu gà), Phan Ngọc Đức (Đức quăn), Thọ Sơn, Lê Văn Vỹ (Vỹ ò), Phạm Quang Tình, Nguyễn Phú Đạt, Nguyễn Phú Quát, Lê Quang Loát (Loát kều).


Thấy anh Quế đến, mừng quá chúng tôi quây lấy anh và hỏi han tíu tít, nào là: Trường ở đâu anh? Còn xa không?... anh Quế chỉ cười và trả lời "cứ đi sẽ biết. Đến Bình Ca sẽ đãi các cậu một chầu, sau đó xuôi về Đoan Hùng. Cứ theo tôi, nhớ bám sát Quế này nhé!... Rồi anh nói tiếp, như ra lệnh: "Từ giờ phút này các "cậu ấm" đã là lính. Lính thì chỉ biết có nghe lệnh. Rõ chưa!...". Chúng tôi đồng thanh: "Rõ". Sau đó, theo lệnh của anh, chúng tôi tập họp rồi lên đường, đi theo hàng 1, cự ly phân tán để đề phòng phi cơ địch oanh tạc. Nhóm chúng tôi nhẹ nhàng nhất, hành trang của tôi chỉ có một nửa chiếc chăn chiên, một ba lô con cóc do tôi tự may ở nhà, với một bộ quần áo kaki do anh trai tôi cho để mặc đi học, đã cũ. Cả tốp có một vật quý giá nhất phải bảo vệ, đó là chiếc đàn ghi ta gỗ của anh Lãng. Chúng tôi ưu tiên cho anh Lãng vác đàn, không phải mang gì cả. Lúc ấy, công cụ "món ăn tinh thần" này sao mà quý thế? Chúng tôi gọi nó là "cần câu cơm", bởi vì có nó chắc chắn là đi làm công tác dân vận sẽ có lợi lắm. Đến Bình Ca, chúng tôi vẫn không thấy mệt, lại được anh Quế chuẩn bị sẵn cho một bữa ăn khá tươi. Anh tuyên bố: "Hôm nay khao các chú một bữa tươi, từ mai trở đi chắc khó mà tái diễn được...". Ôi, lần đầu tiên tôi được ngồi ăn lịch sự như thế này, với tư cách người lớn thực sự như thế này. Vì ở nhà tôi vẫn được liệt vào loại trẻ và chỉ được làm "bồi bếp” cho Bầm tôi thôi. Hầu hết các quán ăn và các hàng tạp hoá ở đây đều được xây dựng dưới các tán cây hoặc trong các hẻm núi để phòng không, nhưng cũng khá bề thế, khang trang và đủ loại mặt hàng cần thiết. Cơm nước xong, trời gần tối, chúng tôi theo anh Quế xuống thuyền xuôi Đoan Hùng (ở địa phương quen gọi là đi đò dọc). Khi xuống thuyền, anh Quế đứng trên bờ, đếm từng người một, rồi xuống sau cùng và bảo: "Các chú sữa (anh gọi bọn trẻ chúng tôi như vậy), hôm nay đi nhiều đã mệt, cứ ngủ đi, để tôi gác cho và sẽ gọi dậy khi đến bến". Lúc này chúng tôi mới được thảnh thơi và thấm mệt, ai nấy vừa đặt lưng là lăn ra ngủ như chết. Đến khi anh Quế đánh thức, chúng tôi tỉnh dậy thì trời đã hửng sáng và thuyền đã cập bến ở bờ phía Bắc sông Chảy, nơi ngã ba tiếp giáp với sông Lô. Sau khi lên bờ, anh Quế lai tâp hợp đơn vị, kiểm tra quân số và ra lệnh: "Tất cả hành quân theo một hàng dọc, đi về doanh trại". Doanh trại! cái từ mới lạ làm sao chứ? Tôi cho là nó cũng đồng nghĩa với từ "đại bản doanh" đã được đọc trong Tam Quốc chí. Ừ mà nếu là "đại bản doanh của Thuỷ quân" thì cũng oai thật đấy! Những suy tưởng ngây ngô trước những sự việc mới lạ cứ diễn ra và đeo đuổi trong tôi khi còn là lính mới là như thế đó. Chúng tôi đi chừng một tiếng thì đến một phố nhỏ ven sông Chảy. Trên bến dưới thuyền, nhà trệt xen lẫn nhà sàn đều bằng tre nứa và lợp lá cọ, dân cư đông đúc. Anh Quế hóm hỉnh giới thiệu "Đây là phố Giàn, thủ đô của chúng ta đó". Ở lại đây nghỉ ngơi một lát, anh Quế đưa chúng tôi vào doanh trại, lúc ấy đã tám giờ sáng. Đây là một vùng khá rộng ở bên phía sau phố Giàn, có 4 khu: - khu Hiệu bộ của trường đồng thời cũng là cơ quan của Ban nghiên cứu Thuỷ quân; khu tiểu đoàn bộ (có cả hội trường và sân tập họp, chào cờ); khu đại đội 1; khu đại đội 2. Nhà cửa đều làm bằng tranh tre, nứa lá, khá đẹp. Mỗi khu đại đội còn có một sân bóng chuyền cùng với các bãi xà đơn, xà kép, dây leo tự tạo. Các khu cách nhau khá xa, từ 300 đến 500 mét và dựng nhà theo ven sườn đồi, bên cạnh nhà ở đều có hầm hào phòng không. Kẻng báo động bằng một vỏ quả bom lớn treo trên đỉnh đồi gần đại đội 1 thường xuyên có người canh gác để báo động phòng không. Nối liền các khu là những con đường nhỏ, phẳng, sạch và đẹp mắt.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7340



WWW

Thuỷ quân Sông Lô thời chống Pháp xâm lược (1949-1954)« Trả lời #16 vào lúc: 29 Tháng Giêng, 2021, 01:42:16 pm »
Khoá 1 học viên Thuỷ quân chúng tôi có hai đại đội, hình thành một tiểu đoàn do anh Trần Lưu Phương làm tiểu đoàn trưởng và anh Khổng Hiệu làm chính trị viên. Hai đại đội trưởng là các anh Nghiêm Xuân Hùng và Lê Trường Đa. Còn các trung đội trưởng là anh Dương Đình Ấu, Trần Kỳ, Trần Hùng... đều đã tốt nghiệp khoá 4 trường Lục quân Trần Quốc Tuấn... Sau khi làm việc với các thủ trưởng Hiệu bộ và Ban chỉ huy tiểu đoàn học viên, anh Quế tập họp chúng tôi ở sân tiểu đoàn bộ và làm thủ tục bàn giao biên chế số anh em học viên mới chúng tôi về các đơn vị. Tôi được phân công về tiểu đội anh Hà Văn Ngữ (to kều), nằm trong trung đội anh Dương Đình Ấu, thuộc đại đội 2 của anh Lê Trường Đa và mau chóng hoà nhịp với sinh hoạt của đơn vị. Khoảng 10 ngày sau thì khoá học đầu tiên khai giảng: toàn tiểu đoàn tập trung ở hội trường làm lễ khai mạc, ngoài các anh lãnh đạo của cơ quan Hiệu bộ của trường, còn có cán bộ Bộ Tổng Tham mưu về huấn thị và đọc quyết đinh, đại biểu học viên lên phát biểu và hứa hẹn. Buổi lẽ rất trang nghiêm, trọng thể, động viên được khí thế phấn khởi của toàn trường.

Bước "cày vỡ":

Sau đó cuộc đời lính học viên Thuỷ quân khoá 1 của chúng tôi nghiêm túc bước vào học tập. Tháng đầu tiên học về "điều lệnh tác phong" xây dựng quân đội chính quy, sẵn sàng chiến đấu, phải nói là khá "căng", nhất là hầu hết anh em chúng tôi đều là học sinh mới thoát ly gia đình bước vào cuộc sống tập thể với kỷ luật nhà binh. Các anh chỉ huy bảo chúng tôi còn bỡ ngỡ, nhưng sau 1 tháng tân binh, các anh ấy "luộc cho ra bã" thì cũng quen dần. Để rèn luyện tác phong ban đầu, đơn vị đề ra các mục tiêu phấn đấu cho chúng tôi trong từng tuần lễ một để thi đua thực hiện như: tuần lễ kỷ luật; tuần lễ nhanh chóng; tuần lễ báo động; tuần lễ lễ tiết tác phong.... Sau mỗi tuần nội dung học tập đều có sơ kết, tổng kết, nhận xét cá nhân và phân đội, có biểu dương để phát huy các mặt ưu điểm; phân tích, phê phán các mặt khuyết điểm. Đây là tháng học tập đầy gian khó đối với chúng tôi, nếu gọi là "môn học" thì không cao xa gì, nhưng làm được đều khó khăn vất vả. Thật vậy, chúng tôi đang tuổi ăn, tuổi ngủ, quen sinh hoạt tự do mà đưa ngay vào khuôn phép thì thật là khổ sở, luôn bị phạt. Ở đây, nhất nhất mọi cái đều phải đúng quy định, đúng giờ giấc, đúng hiệu lệnh của một tập thể thống nhất, sai là phạt, mà sao lắm cách phạt thế? đủ mọi hình thức: phạt đứng nghiêm, phạt chạy, phạt bò... tuỳ theo nặng nhẹ mà bắt mang cả ba lô, vũ khí hay không. Thế mà anh em chúng tôi chẳng ai kêu ca phàn nàn gì. Mình sai thì mình phải chịu, phạt xong lại chuyện trò nổ như pháo ran. Thời kỳ đầu chúng tôi còn mang súng gỗ, có lần ba sự việc cùng xảy ra: tôi vô ý đánh rơi súng, Quảng "móm" thì khoét súng làm điếu cày, còn Tâm "xổm" lấy súng làm ghế ngồi bị "xê trưởng" bắt gặp, cả ba chúng tôi phải đeo ba lô trườn ba vòng quanh sân, cả "xê" ngồi nhìn cười rúc rích, song chúng tôi đều hiểu rằng phạt là để xây dựng ý thức bảo quản vũ khí cho anh em "súng là vợ, đạn là con". Gay go nhất là ”tuần báo động", có đêm báo động hai, ba lần, rèn luyện cho chúng tôi ngăn nắp gọn gàng, luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Mỗi lần nghe tiếng còi báo động, đứa nào đứa nấy mặc quân phục cho nhanh, tháo và buộc màn cho nhanh, thu xếp đồ dùng, chăn màn và buộc ba lô cho nhanh, rồi đi giày cho nhanh và vác súng đeo ba lô ra tập họp, rồi chạy đều hành quân, nếu để lôi thôi rơi rớt là bị phạt; nhiều lần vừa qua một lần báo động, về mắc màn thiu thiu ngủ thì lại báo động, đêm ngủ nơm nớp không yên, có nhiều anh ngủ không dám bỏ chăn ra đắp, hay màn thì không dám mắc, cứ lồng sẵn bốn góc màn vào bốn đầu chân tay, hễ khi có cán bộ đi kiểm tra ban đêm thì giơ cả bốn vó lên, nhưng rồi bị phát hiện, vẫn cứ phạt. Phần nhiều thiếu ngủ, ban ngày anh em ngồi họp hành cứ gà gật. Chúng tôi thường bảo nhau đây là một tháng "cày vỡ". Câu nói hình tượng này rất đúng nếu ví anh em học sinh chúng tôi như những mảnh đất còn hoang sơ khô rắn ắt phải chịu sự tác động mãnh liệt khi phải cày vỡ nhào luyện cho thuần thục và ví các anh cán bộ nhà trường như những anh thợ cày ắt không khỏi phải tốn bao nhiêu công sức cực nhọc để biến những mảnh đất hoang sơ thành hữu ích. Cho đến hôm nay tôi vẫn còn nhớ mãi anh Lê Trường Đa, thủ trưởng đại đội của tôi, người Liên khu 5, da ngăm ngăm đen, miệng nhỏ, người cao to cân đối, động tác yếu lĩnh rất chuẩn xác mẫu mực, tư thế tác phong nghiêm túc đĩnh đạc. Anh ít nói và có vẻ hơi "khô", làm cho học viên kiêng nể, nhưng rất giàu tình cảm, thương yêu và chăm sóc anh em học viên chu đáo. Đại đội tôi có 3 trung đội, các anh trung đội trưởng đều được qua đào tạo chính quy, làm việc nhiệt tình và mẫu mực, chăm nom thương yêu học viên; mỗi anh một vẻ: anh Dương Đình Ấu người bé nhỏ nhưng hô rất to và động tác cứng rắn gần gũi anh em, tính tình thẳng thắn nhưng hơi nóng, có điều gì không vừa ý là anh đỏ mặt nói ngay; anh Trần Kỳ, người tầm thước điềm đạm, nước da mai mái xanh, tính tình dịu dàng hay cười; anh Trần Hùng dáng thư sinh, đẹp trai, hát hay, tuổi đời còn trẻ, có dáng con nhà khá giả, rất thân với anh ruột tôi là anh Lê Quảng và có lần anh Quảng đã đến thăm tôi và anh Trần Hùng, làm cho giữa tôi và anh Trần Hùng gần gũi nhau hơn. Đến nay cả ba anh trung đội trưởng đều đã hy sinh trong chiến đấu ở chiến trường duyên hải Đông Bắc.


Sau một tháng học tập điều lệnh, tác phong, chúng tôi bắt đầu học tập chuyên môn phân chia làm ba ngành là hàng hải, điện cơ và tín hiệu. Tôi được xếp vào học ngành hàng hải. Lúc đầu lên lớp nghe giảng cũng có nhiều khó khăn bỡ ngỡ khó hiểu, nhưng rồi vừa học vừa hành cũng vỡ dần ra. Các thày dạy chuyên môn theo giờ có chương trình cụ thể, việc học tập chuyên môn xen lẫn với rèn luyện kỷ luật xây dựng chính quy và hoạt động văn nghệ được sắp xếp rất hợp lý. Nội dung chương trình của môn hàng hải gồm có:

- Tín hiệu: bằng còi, đèn, cờ tay do thầy Oanh giảng dạy. Tôi theo học môn này rất hứng thú và đạt kết quả nên đã được trợ giúp thầy giáo trong các giờ luyện tập thực hành.

- Nơ, nút: do thầy Vỵ đảm nhiệm hướng dẫn, tôi học cũng rất nhanh và nắm chắc các thao tác, có thể là do trước đây khi còn ở nhà tôi được thầy tôi dạy đan lát ít nhiều. Khi sát hạch kiểm tra hai môn trên tôi đểu đạt điểm cao.

- Chèo thuyền: theo học môn này tôi được gặp lại thầy Quế, người mà tôi đã từng ngưỡng mộ, nơi luyện tập của chúng tôi là sông Lô và sông Chảy. Tập cả tiểu đội trên một chiếc thuyền, người cầm lái nhìn về phía trước, hai dãy người chèo thuyền về hai bên và quay mặt vào người chỉ huy; đầu tiên là chèo cạn theo động tác thống nhất tám người như một, tạo nên lực đẩy tổng hợp: khi nắm được yếu lĩnh mới chèo dưới nước, thuyền đi rất nhanh và mạnh, có thể đi ngược dòng sông Lô. Khi cần cập bến phải có yếu lĩnh động tác chuẩn bị, quay cho mũi thuyền ngược dòng nước, nếu không thì thuyền sẽ bị dòng nước đẩy đâm vào bờ, hoặc tạo thành lực cản làm lật thuyền như chơi, trong quá trình luyện tập không phải là ít "học sinh thuyền trưởng" đã cho anh em đồng đội uống nước sông Lô. Tôi còn nhớ có một lần học nụ thuyền con, chỉ dùng một dầm ở phía đuôi vừa ngoáy đẩy thuyền đi vừa lái. Trông thì thấy đơn giản nhưng khi thực hành thì không phải là đễ. Khi mọi người lên bờ nghỉ giải lao, anh Quảng "móm" quê Bắc Ninh, học tú tài tưởng bở, hứng lên lẻn xuống bến tháo thuyền ra để nụ thử; nhưng vì sức khoẻ và kỹ thuật chưa tốt, nước lũ tháng 5 của dòng sông Lô đã đưa anh ra giữa sông thì anh em mới phát hiện, cuống quýt lo âu. Thầy Quế không chần chừ lao ngay xuống sông bơi theo dòng lũ ra kịp và leo lên thuyền, rồi bằng động tác thuần thục chỉ 15 phút sau đã đưa được thuyền vào bờ. Ai nấy thở phào nhẹ nhõm, nhưng chúng tôi cũng bị thầy xạc bằng một tràng tiếng Pháp không lấy gì làm nhẹ nhõm cho lắm. Còn "ông Tú móm" thì bước theo sau, mặt còn tái mét cúi xuống nói "Em xin lỗi thầy", đến khi về doanh trại thì không còn tán dóc như mọi hôm nữa. Học hàng hải bằng tàu thuyền trên sông là khoa mục trọng tâm của khoá học nên ai nấy đều chăm chỉ học tập, tuy rằng luyện tập rất mệt và thường ăn đói. Phải nói là thầy Quế rất giỏi về nghề sông nước này và huấn luyện có bài bản, rất nhiệt tình với học viên, làm cho anh em chúng tôi hào hứng học tập và đạt kết quả tốt, không những thế thầy còn để lại cho chúng tôi nhiều ấn tượng tốt về đạo đức tác phong của một người cán bộ phụ trách, người chỉ huy giản dị, khiêm tốn, giàu tính nguyên tắc và quyết tâm khi làm nhiệm vụ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn