TÔI VIẾT TRUYỆN TRANH “NGƯỜI THƯƠNG BINH ẤY”
Tháng 5 năm 1998, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc có đặt tôi tìm nhân vật và viết lời cho một số cuốn truyện tranh về đề tài thương binh liệt sỹ của tỉnh Yên Bái. Vốn là cộng tác viên của NXB, lại nói về con người của quê hương mình, tôi cho đây là dịp tốt, nên nhận lời.
Yêu cầu của NXB thật chặt chẽ, ngoài đòi hỏi về văn phong, hạn định, vừa mang tính tác phẩm văn học, vừa đạt mục đích tuyên truyền; còn phải là người thật viêc thật. Con người bằng xương bằng thịt từ ngoài đời đi vào tác phẩm, trở thành nhân vật có hồn trong trang sách, thì bạn đọc, nhất là bạn đọc vùng miền núi dân tộc, bạn đọc ở lứa tuổi thiếu nhi mới chấp nhận.
Tôi đến Sở Lao động Thương binh xã hội, anh Mạo, Trưởng phòng chính sách cho tôi mượn tập hồ sơ và gợi ý: Ngoài liệt sỹ Hoàng Văn Thọ mới được Nhà nước truy tặng Danh hiệu Anh hùng LLVTND (mà tôi đã làm cuốn truyện tranh Áo chàm chân núi), nên viết về Lương Viết Huấn chiến sĩ tù Côn Đảo từng ba lần bị Mỹ - Ngụy cưa chân mà vẫn không hề lung lạc tinh thần, nay trở về vượt lên bệnh tật và nghèo túng, anh trở thành ông chủ của một gia đình lao động giỏi, một gia đình văn hoá xuất sắc. Tôi mừng thầm và tự lo những chuyến đi tiếp xúc đối tượng.
Nhà Huấn ở xã Đại Đồng huyên Yên Bình, cách quốc lộ 70 đi Lao Cai chỉ bẩy tám cây số nhưng đầy ổ gà ổ trâu khiến chiếc U oát bị sa lầy phải quay trở lại. Lần thứ hai, chắc nhất là xe ôm, anh bạn xe ôm thật nhiệt tình, luồn lách vừa đi vừa hỏi lối rẽ. Thế là tôi giành cả buổi chiều trò chuyên với vợ chồng Lương Viết Huấn.
Sinh năm 1948 ở Đại Đồng, năm 18 tuổi, Lương Viết Huấn xung phong nhập ngũ. Huấn luyện ở Sư đoàn 325B một thời gian đơn vị nhận lệnh đi chiến trường Khu 5 Đông Trường Sơn sau đó vào Sài Gòn. Đợt Tổng tiến công Mậu Thân 1968 tổ trinh sát sâu của anh sau khi nắm chắc tình hình bố phòng của một căn cứ quân sự, trở ra, thì Huấn vướng mìn, chân và mắt anh bị sát thương, địch đổ quân bủa vây bắt được tiểu đội trưởng Lương Viết Huấn cùng một số chiến sỹ. Những đòn tra tấn ngày đêm, Huấn cắn răng chịu đựng. Bọn giặc gian ác tháo khớp bàn chân và lòng con ngươi mắt bên trái. Huấn vẫn không một lời khai báo, tên sỹ quan chiêu hồi ra lệnh cưa ổ khớp gối rồi đưa từ nhà lao Quy Nhơn về Biên Hoà. Anh em tù chăm sóc, sức khoẻ dần dần phục hồi, bọn địch đưa anh trở lại nơi bị bắt, dụ dỗ anh xem ảnh đồng đội hy vọng tìm ra đầu mối tổ chức biệt động nội thành. Huấn chỉ một mực trả lời: “Không biết!”, “Chúng tao tự tổ chức!”. Tức tối bọn giặc lại ném vào phòng tra tấn, chúng đè anh xuống cưa tiếp chân bên trái và nhét hột nhựa vào bên mắt đã bị khoét, khâu lại. Ngất đi, tỉnh dậy, Huấn cố tỉnh táo tự nhủ: “Còn bộ óc, còn bàn tay, còn chiến đấu”. Ở nhà lao Biên Hoà, Huấn gặp anh Diện, anh Đình đều là người Yên Bái, các anh giao hẹn với nhau “dù chết cũng không được phản bội quê hương”. Rồi được anh Ba Thương, người lãnh đạo đấu tranh trong tù dặn dò: “Trong nhà tù Mỹ Ngụy, phải tự biết cứng rắn, khôn khéo và cảnh giác”. Ty chiêu hồi Biên Hoà cho Huấn là kẻ cầm đầu trinh sát nội thành nên đưa anh ra côn đảo. Ở Côn Đảo Lương Viết Huấn mang số tù 3536, bọn chỉ huy ép các tù binh ký tên vào bản “Yêu cầu được trở về miền Bắc” do chúng viết sẵn để chuyển đi Hội nghị Pari nhưng bị anh em tù phản đối. Ban lãnh đạo nhà tù thông báo một tin rất buồn: Bác Hồ không còn nữa. Anh Huấn khóc. Tối hôm đó các tù trại đồng loạt đấu tranh đòi được tháo cùm xích để tổ chức tưởng niệm Bác.
Ở Côn Đảo gần hai tháng, tổ chức tâm lý chiến không tìm được cớ gì buộc Lương Viết Huấn là tù chính trị hay sĩ quan chỉ huy. Bọn chỉ huy đảo lại cho anh xuống tầu đưa sang đảo Phú Quốc. Nhà tù Phú Quốc khắc nghiệt không kém gì Côn Đảo, Huấn được đưa về B4, rồi qua B9, B11 và bị quản thúc chặt chẽ. Một hôm tên chỉ huy ra lệnh: - Tù binh Bắc Việt sắp được trao trả, các anh nói vào máy ghi âm để chuyển đến Chính phủ Hà Nội. Đúng là có chủ trương trao trả tù binh theo nguyên tắc thi hành Hiệp định Pari về Việt Nam nhưng không có việc ghi âm. Lãnh đạo nhà tù tuyên bố : “Mỹ, ngụy phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định!”.
Tháng 4 năm 1973 Lương Viết Huấn xúc động đến ứa nước mắt, anh run run chống chiếc nạng gỗ cùng đồng đội bước qua ranh giới về hậu phương lớn. Tại Quảng Bình, Lương Viết Huấn vinh dự được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhà thơ Tố Hữu. Anh nhớ hôm đó nhà thơ đọc tặng bốn câu: Ta bước đi chỉ một lòng cách mạng / Vững niềm tin sắt đá: Thành công / Như con thuyền vượt biển mênh mông / Dẫu còn xa vẫn tin ngày cập bến. Sau này, Huấn nói với các nhà báo: - Bốn câu thơ ấy đã giúp tôi hiểu hơn lời dạy của Bác Hồ: Thương binh tàn nhưng không phế, và tôi đã cố vượt lên.
Lương Viết Huấn được phẫu thuật lại đùi và mắt, một năm sau đó cấp trên cho anh về trại an dưỡng Hoàng Liên Sơn với đối tượng xếp hạng thương binh 1/4. May mắn cho Huấn, ở trại, anh gặp Lường Thị Nghị cô công nhân lâm trường Thác Bà trẻ trung khoẻ mạnh, người tình nguyện chăm sóc thương binh nặng và họ đã nên vợ nên chồng.
Tự thấy mình ở Trại an dưỡng không hữu ích, lại phải thêm người phục vụ, Huấn xin về quê, anh bàn với vợ phá dần đất hoang để trồng chè trồng cọ. Nhưng các vết thương thường xuyên tái phát làm anh đau đớn; rồi, nỗi đau nhân thân liên tiếp xẩy ra: Em trai Lương Viết Bảo hy sinh ngay ở cửa ngõ Sài Gòn, bố và mẹ anh cũng lần lượt ra đi. Ổn định tư tưởng, sức khoẻ hồi phục, anh chị tập trung suy nghĩ và dồn sức cho việc làm ăn, anh lên gặp lãnh đạo xã xin được giao đất giao rừng, và thế là ngày ngày làng xóm thấy anh, gặp anh khó nhọc chống chiếc nạng gỗ xuống đồng lầy cấy lúa, leo lên đồi cuốc gốc trồng cây. Hôm nay anh chị Huấn có cả một cơ ngơi mà người khoẻ mạnh cũng phải ao ước: Hơn bốn ha rừng quế và bồ đề đang độ xanh tốt, hàng trăm cây ăn quả, cây lấy lá, đàn gà đàn lợn... mỗi năm thu mười, mười hai triệu đồng. Niềm vui ngoài giờ lao động của anh là đi sinh hoạt Câu lạc bộ Cựu chiến binh xã, thăm làng xóm, cùng vợ nuôi dạy ba người con theo nguyên tắc vừa học vừa lao động. Báo chí viết về anh: Là thương binh nặng nhưng Lương Viết Huấn chưa một lần đề nghị chính quyền trợ cấp ngoài chính sách. Anh cười nói với bạn bè: - Vì mình thấy còn có thể làm được thì cố gắng tự lo, đỡ cho Nhà nước.
Năm 1997 Lương Viết Huấn nhận được những tin vui bất ngờ: Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi quà và tặng Bằng khen của Chính phủ. Đài truyền hình Việt Nam mời anh tham dự cuộc gặp mặt Những nhân chứng lịch sử và là khách mời của chương tình VTV3 trước bạn xem truyền hình cả nước. Sau lần lên truyền hình ấy, anh nhận được nhiều thư và quà tặng từ khắp nơi gửi đến. Cảm động nhất là lá thư của người bạn tù ở Hưng Yên: “Huấn ơi, những ngày ở Côn Đảo, chúng mình đã thề rằng còn sống, còn phải chiến đấu. Bây giờ thì chúng mình cũng phải chiến đấu với bệnh tật, với nghèo khó để mà sống có ích...".
Cựu chiến binh Lương Viết Huấn đã sống có ích, rất hữu ích cho gia đình, cho quê hương, và cho xã hội. Người thương binh ấy không còn là vô danh, anh đã trở thành tấm gương sáng trong nhiều tấm gương “Tàn nhưng không phế” của Yên Bái của cả nước và là biểu tượng "Chiến sỹ Trường Sơn" cảm tử trên cả hai mặt trận: Chiến đấu, và chiến thắng.



